| Mục lục bài viết: |
|---|
| Bệnh Gout |
| Gout cấp tính |
| Gout mạn tính |
| Gout thứ phát |
| Điều trị |
| Toàn trang |
II. CÁC THỂ GOUTTE.
1. Goutte cấp tính.
1.1. Điều kiện xuất hiện và tiền triệu.
Cơn Goutte cấp tính thường xuất hiện sau một số hoàn cảnh thuận lợi sau:
- Sau một bữa ăn có nhiều thịt.
- Sau chấn thương hoặc phẫu thuật.
- Sau lao động nặng, đi lại nhiều, đi giầy chật.
- Stress mạnh.
- Nhiễm khuẩn cấp.
- Sau khi dùng một số thuốc: lợi tiểu nhóm clorothiazid, tinh chất gan, vitamin B12, steroid.
Khoảng 50% bệnh nhân có các dấu hiệu báo trước như rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, mỏi mệt, đái nhiều và nóng buốt, sốt nhẹ...
1. 2. Triệu chứng.
- Đa số biểu hiện bằng đau cấp tính ở khớp bàn ngón chân cái một bên, thường xuất hiện vào ban đêm làm bệnh nhân thức giấc. Khớp bàn ngón chân cái sưng to, căng bóng, nóng đỏ và xung huyết, đau dữ dội ngày càng tăng, không thể chịu nổi, chỉ một va chạm nhẹ cũng làm đau tăng lên. Trong khi các khớp khác vẫn bình thường.
- Toàn thân: có biểu hiện sốt nhẹ, mệt mỏi, lo lắng, mắt nổi tia đỏ, khát nước, nhưng đái ít và đỏ, đại tiện táo.
- Đợt viêm kéo dài 1-2 tuần (trung bình là 5 ngày), đêm đau nhiều hơn ngày, viêm nhẹ dần, đau giảm, bớt phù, hơi ướt, ngứa nhẹ rồi bong vảy và khỏi hẳn, không để lại dấu vết gì ở ngón chân. Bệnh có thể tái phát nhiều lần trong một năm.
- X quang: không có gì thay đổi.
- Xét nghiệm trong cơn thấy: acid uric tăng trên 7mg% (416μmol/l), bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng, chọc dịch ở nơi viêm có thể thấy tinh thể urat nằm trong bạch cầu. Ngoài cơn thường thấy acid uric máu cao hơn bình thường, nhưng cũng có khi không tăng.
1. 3. Thể lâm sàng.
1.3.1. Thể theo vị trí khớp viêm.
- Ngoài vị trí khớp bàn ngón chân cái chiếm 60-70%, các vị trí khác ở bàn chân đứng hàng thứ hai như: cổ chân, các ngón chân, sau đó là khớp gối, rất ít khi ở chi trên.
- Thể đa khớp chiếm 5-10%, bệnh nhân có sốt, sưng đau lần lượt từ khớp này sang khớp khác, rất dễ nhầm với thấp khớp cấp.
1.3.2. Thể theo triệu chứng và tiến triển.
- Thể tối cấp: sưng tấy dữ dội, đau nhiều, sốt cao dễ nhầm với viêm khớp do vi khuẩn.
- Thể nhẹ kín đáo: chỉ mỏi mệt, không sốt, đau ít, dễ bị bỏ qua.
- Thể kéo dài: thời gian kéo dài, diễn biến từ khớp này sang khớp khác.





