Xin chào, Quý khách !
Tên đăng nhập Mật khẩu Ghi nhớ
Thảo luận về các phương pháp điều trị bằng vật lý trị liệu và y học cổ truyền trong điều trị đau.

CHỦ ĐỀ: Gs.Bs Quan Đông Hoa - ĐẠI CƯƠNG VỀ CHÂM CỨU.

Gs.Bs Quan Đông Hoa - ĐẠI CƯƠNG VỀ CHÂM CỨU. 08 07 2016 06:41 #561


  • Posts:53
  • LUONGYVIET's Avatar
  • LUONGYVIET
  • Thượng úy
  • Star Gray 20
  • OFFLINE
  • Tín nhiệm: 0
Gs.Bs Quan Đông Hoa - ĐẠI CƯƠNG VỀ CHÂM CỨU.

Thời kỳ này xuất hiện bộ sách Y Học đầu tiên có ghi chép về châm cứu là bộ Nội Kinh hay còn gọi là bộ “Hoàng đế Nội kinh” bao gồm 2 quyển Tố vân và Linh thu tổng kết tất cả tinh hoa của Y học từ nguyên khai.

Nguồn gốc khoa châm cứu

Châm cứu bắt nguồn từ Châu Á trên mảnh đất của vùng châu thổ sông Hoàng Hà, cách đây khoảng 25.000 năm. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những kim châm đầu tiên bằng đá gọi là biếm thạch trong một số di chỉ. Đến thời đại đồ đồng người ta làm ra các cây kim bằng đồng gọi là đồng châm. Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc ( 770.221 truớc công nguyên ) con người đã biết dùng sắt để tạo ra các cây kim bằng sắt nhỏ tinh xảo hơn.

Thời kỳ này xuất hiện bộ sách Y Học đầu tiên có ghi chép về châm cứu là bộ Nội Kinh hay còn gọi là bộ “Hoàng đế Nội kinh” bao gồm 2 quyển Tố vân và Linh thu tổng kết tất cả tinh hoa của Y học từ nguyên khai.

Riêng về châm cứu có một số cống hiến:

1./ Sáng lập ra học thuyết Kinh lạc: mô tả tương đối kỹ nguồn gốc đường đi, hội chứng các kinh lạc.
2./ Đề ra 9 loại châm và cách dùng.

3./ Quy định vị trí và tên các huyệt.

4./ Nêu đuợc một số huyệt chính để chữa bệnh:160 huyệt.

5./ Thảo luận những vị trí cấm châm.

Đến thế kỷ thứ IV trước CN, Biển Thước đã viết cuốn Nạn kinh duới hình thức những câu hỏi đáp để giải thích những đoạn khó hiểu trong bộ Nội kinh, trong đó có nhiều đoạn nói về châm cứu. Toàn bộ sách có 81 câu hỏi, có 21 câu nói về châm cứu.

-Từ câu 23 – 29 nói về kinh lạc -Từ câu 62 – 68 nói về huyệt -Từ câu 69 – 81 nói về pháp châm

Năm 282 Hoàng Phủ Mật viết cuốn Giáp Ất Kinh, đây là một quyển chuyên đề về châm cứu tổng kết những kinh nghiệm châm cứu thời cổ. Bộ này gồm 12 quyển, 128 thiên. Bao gồm 4 điểm:

1./ Hệ thống hóa các tài liệu về châm cứu từ trước về giải phẫu, sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, điều trị.

2./ Xác định các huyệt, bổ sung thêm một số huyệt: 349 huyệt phân phối các huyệt theo vùng giải phẫu.

3./ Khẳng định thao tác cấm kỵ thuận nghịch trong châm cứu.

4./ Nêu ra cách lấy huyệt theo từng bệnh.

Giá trị: Là quyển sách cơ bản về châm cứu thúc đẩy châm cứu trung Quốc phát triển, nó còn có tác dụng rất lớn đối với nền châm cứu nhiều nuớc khác. Đã dịch ra tiếng Pháp, Đức

Năm 652 Tôn Tư Mạo viết quyển Thiên Kim Phương bàn về thuốc và châm cứu trong đó có:

-Đề xuất cách lấy huyệt theo đồng thân thốn.

-Đề cao vai trò A thị huyệt.

-Vẽ 3 bức tranh châm cứu thẳng, trước sau, nghiêng.

Năm 1026 Vương Duy Nhất đúc mô hình châm cứu bằng đồng trên có ghi các huyệt và biên soạn cuốn: “Đồng nhân du huyệt châm cứu đồ kinh” bổ sung thêm một số huyệt lên tới 354 huyệt.
Năm 1220 Vương Chấp Trung biên soạn “Châm cứu tư sinh kinh” tập hợp 3 cuốn Đồng nhân, Minh đường cứu kinh, Ngoại đài bí yếu. Đặc điểm quyển này là tổng kết kinh nghiệm châm cứu mà hiện nay không còn nữa, đưa vào rất nhiều kinh nghiệm lâm sàng về châm cứu. Đưa số huyệt lên 350 huyệt.

Năm 1341 Hoạt Bá Nhân còn gọi là Hoạt Thọ viết quyển “Thập tứ kinh” phát huy trình bày nguồn gốc, đuờng đi, hội chứng của 14 đường kinh, hệ thống hóa và nâng cao thêm một mức giá trị của học thuyết kinh lạc.

Quyển sách có giá trị nhất về châm cứu thời xưa phải kể tới quyển “Châm cứu đại thành” của Duơng Kế Châu hoàn thành năm 1601 tổng kết thêm một bước về châm cứu, còn ghi chép được một số tâm đắc về châm cứu viết dưới hình thức ca phú như: Tiên U Phú, Ngọc Long Phú, Thông Huyền Chi yếu Phú v.v.. tất cả là 12 bài ca phú, đã bảo tồn phần tinh hoa của châm cứu thời cổ, có ảnh hưởng rất lớn đến ngành châm cứu.

Hiện nay có bản dịch Châm cứu đại thành của Phạm Tấn Khoa (1987).

Tất cả sách trên đuợc coi là cơ sở nền tảng của ngành châm cứu.

Châm cứu trên thế giới

Trung Quốc: Trung Quốc là cái nôi phát triển châm cứu, nhưng dưới chế độ phong kiến cho rằng châm cứu làm người bệnh phải bộc lộ thân thể phần nào làm tổn thương phong cách, tổn thương lễ giáo, vì cớ đó đến năm 1822 nhà Thanh ra lệnh bãi bỏ khoa châm cứu ở triều đình. Rồi đến năm 1929 chính quyền lúc đó còn định bỏ cả Đông y nếu không có áp lực đấu tranh của người dân.

Đến năm 1949 cách mạng Trung Quốc thành công, châm cứu được nghiên cứu sâu đem lại nhiều kết quả trong trị bệnh.

Từ 1949 – 1959 các nhà châm cứu Trung Quốc cho rằng phải khoa học hóa châm cứu, tây y hóa châm cứu, trường phái này có Chu Liễn, Lý Thiến Hiệp, Vương Tuyết Đài. Họ đã giải thích cơ chế tác dụng của châm cứu là cơ chế phản xạ thần kinh thể dịch, lấy cơ sở giải phẫu làm chính trong việc xác định và sắp sếp các huyệt. Về điều trị thì nguyên nhân triệu chứng lấy tây y, y học dân tộc chỉ dùng huyệt để châm hoặc cứu.

Nhưng do nhu cầu ngày càng tăng, ngày càng nhiều người đòi hỏi trị bệnh bằng y học dân tộc, thấy sự khó khăn trong sự phối hợp Đông tây y, hạn chế sự đào sâu nghiên cứu y học dân tộc nên dần dần có một sự chuyển hướng trong việc nghiên cứu, đó là hướng phát triển y học dân tộc trên toàn bộ lý luận và thực tiễn của nó.

Mở đầu cho hướng này là một loạt bài nghiên cứu của Học Viện Trung Y Giang Tô như:” Tìm hiểu về nguồn gốc kinh lạc” đăng trên Trung y tạp chí năm 1957.Kế đó là chứng minh sự tồn tại của đường Kinh và Huyệt bằng điện sinh vật của Nakatani Yoshi (Nhật) Nên tới năm 1950 Y học dân tộc nói chung, châm cứu nói riêng có sự chuyển hướng to lớn: Phê phán hướng Tây y hóa, Y học dân tộc đi sang hướng phát triển Y học dân tộc.

Công trình tiêu biểu cho hướng này là bộ Trung y học khái luận và một loạt sách giáo khoa Y học dân tộc của Học Viện Trung Y Giang Tô tập bài giảng của 5 Học viện Trung y Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Châu, Thành Đô và Thượng Hải.

Riêng về châm cứu có hướng đi sâu vào nghiên cứu Kinh lạc ở các học viện, biên soạn ra những tài liệu nghiên cứu về Kinh lạc.

Về huyệt trình bày theo hệ thống Kinh lạc, tuy vậy có nêu được phần giải phẫu từng huyệt, là phần cần thiết để hiểu rõ thêm vị trí của huyệt và là cơ sở cho việc liên hệ Đông Tây Y.
Và điều trị tôn trọng phép biện chứng luận trị của Y học dân tộc trình bày những nguyên tắc cơ bản về điều trị châm cứu, quy luật dùng huyệt và phối hợp các huyệt trong điều trị. Theo hướng này các nhà nghiên cứu châm cứu đã thừa hưởng toàn bộ di sản quý báu của châm cứu trong các sách vở từ ngàn năm để lại và dễ dàng thừa kế những kinh nghiệm sống của những thầy chuyên về châm cứu.

Ngoài ra các nhà nghiên cứu Trung Quốc không ngừng phát huy tìm tòi được những cái mới.Về huyệt phát hiện ra được những huyệt mới gọi là tân huyệt. Trong sách Châm cứu học Thượng Hải xuất bản năm 1974 số tân huyệt đưa lên là 223 huyệt, đưa tổng số huyệt lên là 762 huyệt: Kinh huyệt 361, Kỳ huyệt 178, Tân huyệt 223.

Về thao tác châm cứu cổ xưa, nay đã phát triển thành châm kim dài châm sâu, châm xuyên, gài kim, thủy châm, điện châm và cuối cùng là chôn chỉ.

Về hình thức châm có phát triển thêm ngoài các hình thức châm xưa gọi là thể châm còn có nhỉ châm ( bổ sung và phát triển thêm Nhĩ châm của Nogier), Mai hoa châm, Đầu châm, Điện châm, Thủ túc châm.

Về kết quả châm thì một thành tựu cống hiến lớn nhất là châm tê do các thầy thuốc ở những năm 1959 tìm tòi phát triển từ châm giảm đau cắt Amidan và đến nay là châm thay cho gây tê, gây mê trong mọi loạt phẫu thuật.

Tuy vậy trong khoảng 20 năm trở lại đây, do những biến động chính trị của Trung Quốc: cách mạng văn học, chạy theo các nuớc tư bản nên tình hình phát triển của châm cứu có chiều hướng giảm sút.

Nhật bản: Châm cứu được truyền vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ VI (năm 562 Từ Thông người nước Ngô mang vào đất Nhật quyển Minh đường đồ, Giáp ất kinh và các sách Y học khác).
Tại đây châm cứu phát triển có những nét độc đáo.

Sau thế chiến thứ hai, nghiên cứu châm cứu Nhật có những tiến bộ rõ rệt. Sawasa Ken sau đó kế tục là Siroto Fumiaza đưa ưa điều trị chỉnh thể bằng châm cứu.Sya Kubane tìm ra cách đo ôn độ ở Tỉnh huyệt để châm cứu các du huyệt tương ứng ở lưng.

1957, Nakatami Yoshio áp dụng điện sinh vật chứng minh sự tồn tại khách quan của Kinh lạc và huyệt vị, đồng thời chế tạo ra máy đo điện sinh vật để đo điện trở da của những đường kinh trên cơ thể mà ông gọi là lương đạo lạc và ở trên những huyệt gọi là lương đạo điểm, đó là những máy dó kinh lạc đầu tiên.

Hiện nay châm cứu tại Nhật đang phát triển.Ngoài các hội châm cứu nói chung còn có những hội như: Nhật Bản Kinh Huyệt, Ủy viên hội Nhật Bản kinh lạc học hội, Nhật Bản châm cứu lương đạo lạc y học hội, Nhật Bản châm cứu trị liệu học hội, Nhật Bản châm cứu bì điện học hội v.v..

Các Nước Phương tây

Pháp: Châm cứu đuợc truyền sang các nước Phương Tây từ thế kỷ thứ XVII.Năm 1683 Ten Rbyne, nhà phẫu thuật Hà Lan xuất bản tại London cuốn luận về thấp khớp trong đó có bàn về cách điều trị bằng châm cứu rồi đến:

1712 Kaemfer – 1816 Berlioz – 1825 Sarlandiere. Nhưng có thể nói người đóng góp nhiều cho phong trào châm cứu của Châu Âu và đạt kết quả nhất là G.Soulie’ do Morant.

Từ những năm 30 của thế kỷ này, Morant hoạt động cho châm cứu.Tác phẩm tiêu biểu là Traite’ d’ Acupuncture (Đại luận về châm cứu). Quyển này đuợc tái bản nhiều lần, được các nhà châm cứu ở Pháp cho là sách gốc về châm cứu của Phương tây và đến nay vẫn còn giá trị.
Khoảng nhhững năm 40 của thế kỷ này được thành lập các cơ sở nghiên cứu về châm cứu: Hội châm cứu Pháp, Hội châm cứu Quốc tế có xuất bản một số sách và tạp chí.
Sau Morant phải kể tới R. de La Fuye viết Traite’ d’ Acupuncture 1947, L’ Acupuncture: Moderne pratique (Châm cứu hiện đại và thực hành – 1952).

Rồi lần lượt có những nhà nghiên cứu có tiếng khác như: Chamfrault, Niboyet, Nguyễn Văn Nghị, Darras, Bossy và nhất là Nogier có sáng kiến lớn về Nhĩ châm, chính Nogier là người sáng lập ra Nhĩ châm hiện đại.

Nhưng thật ra nền châm cứu của Pháp cho đến trước năm 1969 mới chỉ biết 14 đường kinh điều trị chú trọng nhiều đến các huyệt Du, Mộ, huyệt Khích và huyệt Ngũ du chưa biện luận theo Y học dân tộc và còn gắn liền với vi lượng dòng căn (Homeopathie).

Đến năm 1969 Chamfrault và Nguyễn Văn Nghị cho ra quyển: Nhân khí trong y học Trung Quốc (L’ e’nerge’tique humaine en me’decine chinoise) giới thiệu toàn bộ kinh lạc và quan niệm hiện nay về châm cứu, nên đã làm cho chuyển hướng châm cứu tại Pháp.

Thực ra đó là đóng góp của Việt Nam vì những bản dịch trung y học khái luận được 1962 và được đưa sang Pháp. Sau Pháp, một số nước ở Châu Âu cũng có nghiên cứu và thực hành châm cứu như: Anh, Đức,Ý, Ba Lan, Hung, Tiệp …Liên Xô: sau khi học tập về châm cứu, tại Liên Xô có thành lập cơ sở để nghiên cứu mà gọi là phản xạ liệu pháp.

Hướng nghiên cứu châm cứu ở Liên Xô là giải thích cơ chế thần kinh thể dịch (Vogralic, Kassil). Khi châm kim hoặc cứu ở huyệt sẽ gây ra phản ứng mà phản ứng này chủ yếu là phản ứng toàn thân tác động tới thần kinh trung ương và thông qua hệ này với hệ thần kinh thực vật gây biến đổi cả về thể dịch và nội tiết mà ảnh hưởng tới các cơ quan nội tạng và mọi tổ chức cơ thể.

Các châu khác

Châu Mỹ: Qua các tin tức thì Cu Ba đã nghiên cứu thực hành về chân cứu có hội châm cứu và xuất bản các sách về châm cứu.

Tại Mỹ, châm cứu được xâm nhập từ 1972 và người mở đầu cho châm cứu tại đây là Felix Mann ở London (Anh) và Nguyễn Văn Nghị ở Marseille (Pháp) (Lester C.Mark: châm cứu tại New York, báo cáo Hội nghị châm cứu Quốc tế lần V Tokyo -1977).

Tại Canada, châm cứu cũng đuợc phát triển và những năm gần đây còn thành lập cả Hội đông y nghiên cứu cả thuốc và châm cứu. Canada có những đóng góp đáng kể 1976 Pomerranz, SS Kim thiết lập mối quan hệ giữa châm cứu và Endorphine giải thích cơ chế hoạt động châm cứu qua các mô hình thể dịch thần kinh.
Châu Phi, Mỹ Latinh: Châm cứu đang được giới thiệu và đã được nhiều người bệnh ưa thích. Tại các nước Angola, Algérie, Libi nơi có các bác sĩ Việt Nam tới làm việc đã giới thiệu và phát triển châm cứu ở nuớc này.

Tóm lại, hiện nay châm cứu không còn giới hạn trong các nước Châu Á, nó đã lan rộng ra nhiều nước ở các châu vì nó đã đáp được một yêu cầu là trị bệnh.

Tình hình châm cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam trị bệnh bằng châm cứu đã được áp dụng từ rất lâu. Thế kỷ thứ II trước CN đời Thục An Dương Vương một thầy thuốc tên là Thôi Vỹ đã dùng phương pháp cứu chữa bệng lao hạch cho Ưng Huyền.

Thế kỷ XIV, một thầy thuốc Châu Canh đã dùng kim châm cứu sống Hoàng Tử Hạo, con Vua Trần Minh Tôn bị đuổi ở Hồ Tây.

Nhưng những sách chuyên đề về châm cứu Việt Nam cho đến nay mới phát hiện 3 quyển, đó là:
-Châm cứu tiệp hiệu diễn ca của Nguyễn Đại Năng.

-Châm cứu thủ huyệt đồ và châm cứu tiệp hiệu pháp của Lý Công Tuân.

-Châm cứu tiệp hiệu của vị thái y họ Vũ.

Châm cứu tiệp hiệu diễn ca:

Năm 1962 cụ Đoàn Quang Võ sưu tầm được ở Hải Hưng 1 tài liệu chép tay về châm cứu, qua giám định văn bản đã xác định đuợc đây là cuốn Châm cứu tiệp hiệu diễn ca do Nguyễn Đại năng đời Hồ (1400 – 1446) biên soạn và Thái y viện đời Lê bổ sung. Cuốn sách đã được cụ Lê Trần Đức chuyên viên viện đông y biên dịch và Nhà xuất bản y học Hà Nội xuất bản năm 1981. Vì vậy nhiều nhà châm cứu Việt Nam chưa biết đến quyển này

Sách chia làm 5 phần:

Phần 1: Nói về việc dùng Ngải để châm cứu, tác dụng của phép cứu, kiêng kỵ, cách chia tấc đo lấy huyệt, các huyệt cấm châm, cấm cứu trừ quỷ.Bàn về các huyệt Cao Hoang, Tứ Hoa, Hoan Môn, Trúc Mã, Mỗ Tự.

Phần 2: Nói về dùng huyệt điều trị 20 loại bệnh bằng châm cứu.

Phần 3: Bàn chung các huyệt để trị bệnh (103 loại)

Phần 4: Nói về kinh mạch và các huyệt vị.

Phần 5: Phụ lục của Thái y viện đời hậu Lê.

Đặc điểm là có nêu một số huyệt đặc biệt khác.

Châm cứu thủ huyệt đồ và châm cứu tiệp hiệu pháp của Lý Công Tuân soạn năm 1695 trình bày cách lấy huyệt và trị bệnh theo lối diễn ca.

Châm cứu tiệp hiệu của vị thái y học họ Vũ khoảng thế kỷ XVII, gồm:

-Tiệp hiệu phú Tổng yếu phú bằng chữ Hán.

-Dùng huyệt theo các chứng bệnh

-Phép lấy huyệt: 123 huyệt.

-Thơ ca cấm kỵ châm cứu.

Ngoài 3 cách trên là một số kinh nghiệm và tư liệu lẻ tẻ trong các trước tác y học của các tác giả như: Tuệ Tĩnh, Hải Thượng, Nguyễn Trực, Vũ Bình Phố, v.v.. và một số kinh nghiệm gia truyền châm cứu chép tay bằng chữ Hán hay chữ Nôm ở trong các gia đình nhưng ít được phổ biến.
Ở miến Nam trước năm 1975 có Hội đông y dược Việt Nam, Khoa châm cứu đã được các bác sĩ Nguyễn Văn Ba, bác sĩ Hoàn Mộng Lương, đông y sĩ Trần Tiến Hy viết nhiều bài về châm cứu đăng trên tạp chí đông y rồi tạp chí Bách Khoa, Nguyệt san Phương Đông, có các sách châm cứu của các đông y sĩ Khương Duy Đạm, của cư sĩ Thượng Trúc, của Thượng tọa Thích Tâm Ấn và sau năm 1975 có sách của BS Trương Thìn (Thực hành châm cứu luận trị, Phát triển phương pháp luận đông y và châm cứu), của nhà nghiên cứu Hùynh Minh Đức: Tý ngọ lưu chú, Linh quy bát pháp. Châm cứu của Lương y Hoàng Duy Tân. Châm cứu kinh huyệt đồ và cẩm nang từ vựng châm cứu của Câu lạc bộ Khoa học Châm cứu Sông Bé: Vương Sanh, Hùyng Văn Tâm, Lê Hưng: Nhu Châm, sổ tay chọn huyệt châm cứu tối ưu, và cả tờ tập san Châm cứu Sông Bé v.v..

Ở miền Bắc năm 1957 Viện nghiên cứu đông y (nay là Viên y học dân tộc hà Nội) được thành lập, trong đó có khoa châm cứu. Chủ nhiệm khoa châm cứu đầu tiên là Bác sĩ Phạm Bá Cư (mất năm 1973) Viện trưởng đầu tiên là BS Nguyễn Văn Hưởng, rồi mới đây 1983 Viện châm cứu được thành lập, Viện trường là Giáo sư bác sĩ Nguyễn Tài Thu. Chính từ cở sở của viện đông y này châm cứu được truyền bá rộng rãi, đã lập được nhiều thành tích trong phòng bệnh và trị bệnh.

Về biên soạn dịch thuật trong vòng 30 năm qua sách châm cứu đã xuất bản nhiều trong đó có một số có giá trị như:

Về dịch có:

-Trung y học khái luận ; Châm tê ; Châm cứu tốc hành ; Châm cứu tiệp hiệu diễn ca

Về biên soạn có:

-Châm cứu sơ bộ thực hành của Nguyễn Tử Siêu ; Châm cứu đơn giản của BS Lê Khánh Đồng – -Sổ tay châm cứu của BS Nguyễn Mạnh Phát, Châm cứu vấn đáp - Tại sao châm cứu khỏi bệnh của Vũ Xuân Quang, Thuốc nam châm cứu của Lương y Lê Bá Cư, Lương y Đào Việt Hà, BS Quan Đông Hoa, -Nhĩ châm, Thủy châm, Mai hoa châm của BS Phùng Huy Uyển, Nguyễn Tài Thu, Lê Nguyên Khánh. -Châm cứu thực hành của Nguyễn Hữu Hách; -Tân châm và Châm tê của BS Nguyễn Tài Thu ; -Phát huy truyền thống châm cứu của Nguyễn Đại Năng, Lương y Lê Trần Đức., -Châm cứu học của khoa châm cứu Viên đông y , -Điện châm của Lê Quang Nhiếp ; -Châm tê trong ngoại khoa của Giáo sư Nguyễn Tài Thu, Giáo sư Hoàng Bảo Châu, Bộ giáo trình Bài giảng đông y, tập I và II tái bản thành 3 tập của Giáo sư Trần Thúy, Giáo sư Phạm Duy Nhạc và cộng sự., -Thời châm học tý ngọ lưu chú dưới ánh sáng toán học ; -Một số vấn đề lý luận của Nhĩ châm của nhà nghiên cứu châm cứu Dược sĩ Nguyễn Xuân Tiến.

Kết luận

Châm cứu là di sản quý báu của nền Y học dân tộc Việt Nam đã góp phần bảo vệ sức khỏe cho người dân.

-Châm cứu ngày càng được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng, vì vậy việc nghiên cứu và thực hành châm cứu hiện nay là việc cần thiết hơn lúc nào hết để góp phần kết hợp 2 nền Y học hiện đại và Y học cổ truyền để xây dựng một nền Y học Việt Nam mới.

Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa

Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ
    
LUONGYVIET
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Hãy đăng nhập để trả lời chủ đề này.
Quản lý: dieutridaucom
Thời gian tải trang: 0.162 giây

Viết bình luận

Xem thêm

Bài mới Diễn đàn