Chương 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐAU
Cơ chế đau | Phản ứng viêm | Lượng giá và điều trị đau
CƠ CHẾ ĐAU
2.
Cơ sở của cảm giác đau
II.
Cơ sở giải
phẫu sinh lý thần kinh
2. Sự dẫn truyền cảm giác đau vào tủy sống
3. Đường dẫn truyền cảm giác đau lên não
5. Đường dẫn truyền xuống chống đau
7. Vai
trò của hệ thần kinh giao
cảm
III. Các
cơ chế kiểm soát đau
2. Thuyết
giảm đau nội sinh
IV. Phân
loại đau
2. Phân loại theo thời gian và tính chất đau
II.
CƠ SỞ GIẢI PHẪU, SINH LÝ THẦN
KINH.
1.
Sự nhận cảm đau.
1.1.
Các thụ cảm thể nhận cảm đau:
-
Sự nhận cảm đau bắt đầu từ các
thụ cảm thể phân bố khắp nơi
trong cơ thể, có nhiều giả
thuyết về vai trò và chức năng
của các thụ cảm thể này, trong
đó đáng chú ý nhất là hai
thuyết:
+
Thuyết về cường độ (hay thuyết
không đặc hiệu): Do Gold Scheider đề
xuất năm 1894. Theo thuyết này thì
các kích thích đau không có tính đặc
hiệu mà có liên quan đến cường
độ kích thích: cùng một kích thích
ở cường độ thấp thì không gây
đau nhưng với cường độ cao thì
lại gây đau.
+
Thuyết đặc hiệu: Do Muller đề
xuất vào gần cuối thế kỷ 19,
theo ông mỗi một trong 5 giác quan
(vị giác, khứu giác, thính giác,
thị giác, xúc giác) được nhận
cảm và dẫn truyền theo một đường
riêng và có một vùng đặc hiệu
trên não nhận cảm và phân tích.
Thuyết này được Frey phát triển,
ông đã chứng minh bằng thực
nghiệm các cảm giác xúc giác,
nhiệt nóng, nhiệt lạnh và đau có
các receptor nhận cảm khác nhau.
Theo
thuyết đặc hiệu, thông tin về
nhận cảm đau do tổn thương bắt
đầu từ các thụ cảm thể
(receptor) nhận cảm đau chuyên
biệt, đó là các tận cùng thần
kinh tự do, phân bố ở khắp các
tổ chức cơ thể, chủ yếu ở mô
da, mô
cơ, khớp và thành các tạng. Các
thụ cảm thể này trong điều
kiện bình thường thì “im
lặng” không hoạt động, chỉ
bị kích thích khi mô bị tổn thương.
Bao gồm các loại thụ cảm thể
nhận cảm đau sau:
•
Các thụ cảm thể nhận kích thích
cơ học.
•
Các thụ cảm thể nhận kích thích
hóa học.
•
Các thụ cảm thể nhận kích thích
nhiệt.
•
Các thụ cảm thể nhận kích thích
áp lực.
-
Các thụ cảm thể nhận cảm đau có
tính không thích nghi: với đa số các
loại thụ cảm thể, khi bị kích
thích tác động liên tục thì có
hiện tượng thích nghi với kích thích
đó, khi đó những kích thích sau
phải có cường độ lớn hơn thì
mới có đáp ứng bằng với kích
thích trước đó. Ngược lại, khi
kích thích đau tác động liên tục
thì các thụ cảm thể nhận cảm
đau ngày càng bị hoạt hóa. Do đó
ngưỡng đau ngày càng giảm và làm
tăng cảm giác đau. Tính không thích
nghi của các thụ cảm thể nhận
cảm đau có ý nghĩa quan trọng ở
chỗ nó kiên trì thông báo cho trung
tâm biết những tổn thương gây đau
đang tồn tại.
-
Ngưỡng đau là cường độ kích thích
nhỏ nhất có thể gây ra được
cảm giác đau. Một cường độ kích
thích mạnh sẽ gây ra cảm giác đau
sau một thời gian ngắn (1 giây), nhưng
cường độ kích thích nhẹ đòi
hỏi thời gian dài hơn (vài giây)
mới gây được cảm giác đau.
1.2.
Các chất trung gian hóa học:
-
Cơ chế nhận cảm đau của các
thụ cảm thể chưa được biết rõ
ràng. Có thể các tác nhân gây đau
đã kích thích các tế bào tại
chỗ giải phóng ra các chất trung
gian hóa học như
các kinin (bradykinin, serotonin, histamin), một số prostaglandin, chất P...
Các chất trung gian này sẽ tác động
lên thụ cảm thể nhận cảm đau làm
khử cực các thụ cảm thể này và
gây ra cảm giác đau.
-
Bradykinin:
là một trong các kinin huyết tương,
có vai trò quan trọng trong phản
ứng viêm (gây giãn mạch, tăng tính
thấm mao mạch, và gây đau); cùng
với histamin, leucotrien, prostaglandin,
các kinin cũng là chất trung gian hóa
học của quá trình viêm. Trong cơ
thể kalikreinogen (của huyết tương,
tụy tạng) được hoạt hóa thành
kalikrein là một enzym, nó sẽ
chuyển kininogen thành các kinin
(bradykinin, kalidin). Kalikreinogen có
thể được hoạt hóa bởi yếu
tố Hageman (yếu tố XII), phản
ứng kháng nguyên - kháng thể, viêm,
chấn thương, trypsin, plasmin, nọc
rắn, môi trường acid và nhiệt độ.
Những tác nhân đó cũng hoạt hóa
và làm giải phóng kalikrein từ tổ
chức (Hình 1.
1
).
-
Prostaglandin
(PG): Năm 1935 Von Euler (Thụy Điển)
lần đầu tiên phân lập được
một hoạt chất từ tinh dịch và
đặt tên là prostaglandin vì cho
rằng chất này xuất phát từ
tiền liệt tuyến (prostate: tiền
liệt, glande: tuyến).

PG
được sinh tổng hợp ngay tại màng
tế bào từ phospholipid (Hình 1.
2
),
và không phải là một chất đơn,
mà ngày nay đã biết đến hơn 20
loại PG. Đó là những nhóm các
acid béo không bão hoà, dẫn chất
của acid prostanoic, gồm 20 nguyên
tử cacbon có cấu trúc tương tự
nhau nhưng có hoạt tính sinh học khác
nhau, chúng có tên gọi như sau:
·
Các
PG cổ điển: gồm các loại A, B,
C, D, E, F. PGG và PGH khác với các
loại trên vì có Oxy ở C15.
·
Các
prostacyclin: PGI, còn gọi là PGX.
·
Các
thromboxan: TXA, TXB.
Chữ
số ả rập đi theo chữ cái A, B
(như PGA1, PGB2) là
chỉ số đường nối kép của
chuỗi nhánh:
Loại
1: có 1 đường nối kép ở C13-14.
Loại
2: có 2 đường nối kép ở C13-14
và C5-6.
Loại
3: có 3 đường nối kép ở C13-14,
C5-6, và C17-18.
Chữ
a
(PGF2a)
có nghĩa là hai nhóm OH ở vị trí
9 và 11 đều ở dưới mặt phẳng
của phân tử, còn chữ b
chỉ nhóm OH ở C9 nằm trên
mặt phẳng.
Các
PG được tổng hợp để dùng ngay
tại mô, nồng độ rất thấp chỉ
khoảng vài nanogam/gam mô. Chúng có
mặt ở khắp nơi trong cơ thể,
phạm vi tác dụng sinh lý rất
rộng lớn nên còn được gọi là
hormon tổ chức:
+
Một số PG có tác dụng gây viêm và
gây đau, đặc biệt là PGE2
được giải phóng do kích thích cơ
học, hóa học, nhiệt, vi khuẩn có
tác dụng làm giãn mạch, tăng tính
thấm thành mạch gây viêm và đau.
PGF1 gây đau xuất hiện
chậm nhưng kéo dài. PGI1 gây
đau xuất hiện nhanh nhưng nhanh
hết. PG còn làm tăng cảm thụ
của thụ cảm thể với các chất
gây đau như bradykinin.
+
Trên tiêu hóa: PGE1 làm
giảm tiết dịch vị gây ra do
histamin hoặc pentagastrin, làm tăng
nhu động ruột gây ỉa lỏng.
Misoprostol (Bd Cytotec, Gastec) là
thuốc có tác dụng giống PGE1
được dùng trong lâm sàng điể điều
trị bệnh lý dạ dày hành tá tràng.
PGE2 gây nôn và rối loạn
tiêu hoá.
+
Trên thành mạch: PGE và A gây giãn
mạch nhỏ, làm đỏ mặt, nhức đầu,
hạ huyết áp. PGE1 còn làm
tăng tính thấm thành mạch.
+
Trên hô hấp: có sự cân bằng sinh
lý giữa PGE1 và F2a.
Loại F làm co phế quản, còn loại
E1 làm giãn, nhất là trên
người bệnh hen.
+
Trên tử cung: PGF làm tăng co bóp
tử cung nhịp nhàng nên có tác
dụng thúc đẻ. PGE mạnh hơn F 10
lần. PGE2 và F2a
được dùng trong lâm sàng để gây
sẩy thai và thúc đẻ.
+
PGE1 tác dụng ở vùng đồi
thị như một chất trung gian gây
sốt; Prostacyclin, Thomboxan A2 điều
hòa sự kết tập tiểu cầu; tăng
độ lọc cầu thận...
Các
thuốc NSAID ức chế cyclo-oxygenase
(COX), các thuốc corticoid ức chế
phospholipase làm giảm tổng hợp PG
nên có tác dụng chống viêm giảm
đau; các chất acid antrinilic,
mefenamic, flunamic đối kháng với tác
dụng của PG.
-
Chất
P (pain): là một peptid có 11 acid
amin được tiết ra ở tủy sống
khi có xung động từ sợi Ad
và C, từ lâu được xem như chất
trung gian thần kinh về đau. Tuy
nhiên, vấn đề còn phức tạp hơn
vì ngay một sợi thần kinh cũng có
thể có nhiều peptid khác nhau
(somatostatin, CGRP...) với chức năng
còn chưa được biết rõ. Hơn nữa
những sợi hướng tâm đường kính
nhỏ cũng chứa những acid amin kích
thích mạnh như Glutamate, cũng
giống như chất P, nó có thể kích
thích những neurone ở sừng sau
tủy sống. Người ta cũng đã
chứng minh được rằng, các kích
thích nhận cảm đau tổn thương có
thể gây giải phóng cùng một lúc
glutamate và chất P.
2.
Sự dẫn truyền cảm giác đau từ
ngoại vi vào tủy sống.
Sự
dẫn truyền cảm giác từ ngoại vi
vào tủy sống do thân tế bào neuron
thứ nhất nằm ở hạch gai rễ
sau đảm nhiệm. Các sợi thần kinh
dẫn truyền cảm giác (hướng tâm)
gồm các loại có kích thước và
tốc độ dẫn truyền khác nhau như
sau:
|
Loại |
Sợi
thần kinh |
Týp |
Đường
kính (mm) |
Tốc
độ dẫn truyền (m/s) |
|
To |
Aa Abeta Ag |
I II II |
12
- 20 6
- 12 5
- 12 |
70
- 120 30
- 70 30
- 50 |
|
Nhỏ
|
Ad B C |
III - IV |
1
- 6 1
- 3 0,4
- 1,2 |
6
- 30 3
- 14 0,5
- 2 |
-
Các sợi Aalpha
và Abeta
(týp I và II) là những sợi to, có
bao myelin, tốc độ dẫn truyền
nhanh, chủ yếu dẫn truyền cảm giác
bản thể (cảm giác sâu, xúc giác
tinh). Các sợi Ad
(týp III) và C là những sợi nhỏ và
chủ yếu dẫn truyền cảm giác đau,
nhiệt và xúc giác thô. Sợi Adelta
có bao myelin mỏng nên dẫn truyền
cảm giác đau nhanh hơn sợi C không
có bao myelin. Vì vậy người ta
gọi sợi Ad
là sợi dẫn truyền cảm giác đau nhanh,
còn sợi C là sợi dẫn truyền
cảm giác đau chậm.
-
Vì sợi thần kinh dẫn truyền cảm
giác đau có hai loại như vậy, nên
khi có một kích thích với cường
độ mạnh sẽ cho ta cảm giác đau đúp:
ngay sau khi có kích thích sẽ có
cảm giác đau nhói sau đó có cảm
giác đau rát. Cảm giác đau nhói đến
nhanh (do được dẫn truyền theo
sợi Adelta)
để báo cho ta biết đang có một
kích thích nào đó có tác hại cho
cơ thể và cần phải đáp ứng để
có thể thoát khỏi kích thích có
hại đó. Cảm giác đau rát đến
chậm (do được dẫn truyền theo
sợi C), nhưng có xu hướng ngày càng
mạnh gây cho người ta một cảm giác
đau đớn không chịu nổi để thôi
thúc người ta sớm loại bỏ kích
thích có hại đó.