| Mục lục bài viết: |
|---|
| Phục hồi chức năng di chứng liệt nửa người |
| Lượng giá vận động |
| Giai đoạn cấp tính |
| Giai đoạn di chứng |
| Toàn trang |
I. Đại cương.
1. Nguyên tắc PHCN.
- PHCN phải được bắt đầu càng sớm càng tốt, ngay sau khi bệnh nhân bị liệt nửa người, mỗi giai đoạn có những kỹ thuật và biện pháp cụ thể khác nhau.
- Lấy vai trò bệnh nhân là chính, thầy thuốc chỉ hướng dẫn và trợ giúp khi cần thiết.
- Luyện tập từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ đến nặng, đưa bệnh nhân ra khỏi giường càng sớm càng tốt.
- PHCN cần tiến hành lâu dài, tiếp tục tại nhà và dựa vào cộng đồng.
2. Mục đích PHCN.
- Giúp bệnh nhân tự phục vụ cá nhân.
- Giúp bệnh nhân tự di chuyển (kể cả với dụng cụ trợ giúp).
- Giúp bệnh nhân thích nghi những di chứng còn lại.
- Giúp đỡ bệnh nhân về nghề nghiệp.
3. Phục hồi theo nguyên lý và kỹ thuật Bobath.
3.1. Nguyên lý.
Coi liệt nửa người là bệnh lý do khiếm khuyết thần kinh trung ương trong khi thần kinh ngoại vi và hệ cơ xương khớp không hề bị tổn thương. Do đó lấy phát triển thần kinh là mục tiêu hàng đầu, bằng các biện pháp:
+ Khôi phục lại các mẫu vận động bình thường vốn có trên cơ sở loại bỏ các mẫu vận động bất thường.
+ Sử dụng mẫu ức chế phản xạ thúc đẩy việc học lại các mẫu vận động bình thường, giúp bệnh nhân học lại “cảm giác vận động” chứ không phải là học các động tác làm mạnh cơ, khôi phục khả năng điều khiển các mẫu vận động chọn lọc một cách chủ động.
3.2. Thực hành.
- Phục hồi vận động dựa trên lượng giá đúng chức năng vận động, phát hiện sớm khiếm khuyết trong vận động.
- Chống mẫu co cứng bệnh lý sớm bằng tư thế như nằm ngửa, nằm nghiêng bên liệt và bên lành.
- Vận động thụ động hết tầm bên liệt, hiệp đồng duỗi.
- Tạo thuận trong vận động chủ động, khôi phục “cảm giác vận động”.
- Tập sử dụng động tác tối đa bên liệt (hoạt động trị liệu) trong tự phục vụ các sinh hoạt hàng ngày.
- Phục hồi phản xạ thăng bằng, phản xạ chống ngã.
- Sử dụng các dụng cụ trợ giúp trong PHCN.
4. Tư thế co cứng cơ.
|
Tư thế Wernck-Mann |
Tiến triển liệt nửa người ở bệnh nhân đột quỵ thường trải qua các giai đoạn: đầu tiên là liệt mềm có thể kéo dài vài tuần, sau đó là giai đoạn liệt cứng với tăng trương lực của các cơ gấp ở chi trên và cơ duỗi ở chi dưới tạo nên tư thế đặc trưng, gọi là tư thế Wernick-Mann:
- Đầu nghiêng về bên liệt, mặt quay về bên lành.
- Chi trên: mẫu co cứng gấp.
+ Xương bả vai bị kéo ra sau, đai vai bị đẩy xuống dưới, khớp vai khép xoay vào trong.
+ Khớp khuỷu tay gấp, cẳng tay quay sấp.
+ Khớp cổ tay gấp về phía lòng bàn tay và hơi nghiêng về phía trụ.
+ Ngón tay gấp và khép.
- Thân mình: phía bên liệt bị kéo ra sau và co ngắn lại hơn so với bên lành.
- Chi dưới: mẫu co cứng duỗi.
+ Hông bên liệt bị kéo ra sau và lên trên.
+ Khớp háng duỗi khép và xoay trong.
+ Khớp gối duỗi, khớp cổ chân gấp lòng.
+ Các ngón chân gấp, khép, bàn chân nghiêng trong.
Muốn chống lại tư thế này, phải vận động khớp ngược chiều với xu hướng co cứng như sau:
- Vận động xương bả vai, đai vai lên trên ra trước, dạng và xoay khớp vai ra ngoài.
- Duỗi khớp khuỷu, xoay ngửa cổ tay, duỗi và dạng các ngón tay.
- Làm dài thân mình bên liệt.
- Vận động hông bên liệt xuống dưới ra trước; gấp, dạng và xoay khớp háng ra ngoài.
- Gấp khớp gối và khớp cổ chân, xoay nghiêng bàn chân ra ngoài.
- Duỗi dạng các ngón chân.





