Home Engl Mobi Foru G+ Face 



Chẩn đoán và điều trị hoại tử chỏm xương đùi

(ĐTĐ) - Hoại tử chỏm xương đùi là một bệnh lý khớp háng mạn tính đã được biết đến từ lâu, còn có một số tên gọi khác như hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi, hoại tử vô mạch chỏm xương đùi, tiêu chỏm, thoái hóa chỏm, tiến triển nặng dần lên mà không bao giờ giảm đi, hậu quả cuối cùng là mất chức năng khớp háng, phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo rất tốn kém. Bệnh chiếm tỷ lệ khoảng 5% trong số các bệnh khớp mạn tính, 80% xảy ra ở nam giới, tuổi hay gặp từ 20 - 50.

 

Yếu tố nguy cơ hoại tử chỏm xương đùi

Nguyên nhân gây bệnh đến nay vẫn chưa biết rõ, nhưng kết quả nghiên cứu giải phẫu bệnh lý cho thấy những vùng chỏm xương đùi bị tiêu có hiện tượng thiếu hoặc không có mạch máu đến nuôi dưỡng, bởi vậy cơ chế bệnh sinh được biết đến là do thiếu nguồn cung cấp máu nuôi dưỡng chỏm xương đùi.

Nguồn máu nuôi dưỡng chỏm xương đùi bao gồm mạng lưới các mạch máu trong bao khớp, động mạch thân xương đùi, động mạch dây chằng tròn, các mạch máu này rất dễ bị tắc nghẽn nếu có hiện tượng tăng áp lực trong bao khớp háng. Mặt khác, hệ thống nối của các mạch máu nuôi dưỡng chỏm xương đùi rất nghèo nàn, nên khi tắc các mạch chính thì nguồn cung cấp máu từ hệ thống nối không bảo đảm yêu cầu nuôi dưỡng dẫn đến tình trạng chỏm xương đùi dễ bị hoại tử.

Bệnh có thể xuất hiện sau chấn thương khớp háng, là nguyên nhân làm tổn thương các mạch máu lớn đến nuôi dưỡng chỏm xương đùi. Tổn thương các mạch máu nhỏ có liên quan đến những yếu tố ngoài chấn thương như tiền sử nghiện rượu, dùng thuốc corticoid kéo dài nhiều năm, đẻ nhiều lần, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid, rối loạn đông máu, bệnh Hemoglobin... Tiền sử chấn thương và nghiện rượu nhiều năm là hai yếu tố liên quan hay gặp nhất trong bệnh lý hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi.

Hoai Tu Chom Xuong Dui

Hoại tử chỏm xương đùi

Chẩn đoán như thế nào?

Khoảng 70% trường hợp tổn thương xảy ra ở một bên, với triệu chứng chính là đau khớp háng, đau tăng lên khi đi lại hoặc đứng lâu, đau giảm khi nghỉ ngơi. Khám lâm sàng thấy các động tác vận động của khớp háng không bị hạn chế, tại chỗ không thấy các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau và không thấy hạch bẹn.

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như Xquang, cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ (CHT), Scintigraphy đóng vai trò quyết định trong việc chẩn đoán xác định và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp. Ưu điểm của chụp Xquang là rẻ tiền và dễ thực hiện, nhưng nhược điểm là chỉ phát hiện tổn thương điển hình khi bệnh đã nặng. Chụp cắt lớp vi tính cho phép chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm với độ nhạy khoảng 80%. Chụp cộng hưởng từ có thể phát hiện được bệnh ở giai đoạn rất sớm, ngay khi cắt lớp vi tính chưa phát hiện thấy tổn thương, với độ nhạy đạt tới 95%, nên phương pháp này đang là lựa chọn hàng đầu ở một vài quốc gia có nền y tế phát triển.

Năm 1980, Ficat và Arlet căn cứ vào triệu chứng lâm sàng đau khớp háng và hình ảnh tổn thương trên phim Xquang để phân làm 5 độ tổn thương, từ độ 0 đến độ 4. Cho đến nay, cách phân độ này ít được áp dụng vì có sự phát triển của cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ.

Năm 1993, Arcore căn theo tổn thương phát hiện được trên CLVT và CHT để phân chia thành 6 độ:

- Độ 0: Đau khớp háng không điển hình, CLVT và CHT nghi ngờ tổn thương.

- Độ 1: Đau khớp háng điển hình, CLVT và CHT có những ổ hoại tử nhỏ.

- Độ 2: Có hiện tượng hoại tử dải xương, nhưng chưa tiêu xương dưới sụn.

- Độ 3: Có hiện tượng tiêu xương dưới sụn.

- Độ 4: Có biến dạng chỏm xương đùi.

- Độ 5: Có hiện tượng bong mảnh xương hoại tử, biến dạng ổ cối.

Còn một số cách phân độ tổn thương khác, nhưng phương pháp mà Arcore đưa ra hiện nay đang được áp dụng phổ biến nhất.

Phương pháp điều trị?

Hoại tử chỏm xương đùi là bệnh lý có đặc điểm tiến triển ngày càng nặng, mọi biện pháp điều trị chỉ nhằm mục đích giảm đau và làm chậm lại quá trình hoại tử. Tùy theo mức độ tổn thương theo phân độ của Arcore mà có nhiều phương pháp điều trị khác nhau.

Điều trị nội khoa bằng các thuốc giảm đau thuộc nhóm nonsteroid hoặc điều trị theo phương pháp y học cổ truyền khi tổn thương ở độ 0.

Phẫu thuật khoan giải áp chỏm xương đùi khi tổn thương ở độ 1 và độ 2, tạo ra các đường hầm theo chiều dọc cổ xương đùi có tác dụng làm giảm áp lực trong bao khớp để hạn chế các mạch máu bị tắc nghẽn. Trên 70% bệnh nhân sau khoan giảm áp hết đau khớp háng, số còn lại giảm đau rất nhiều.

Phẫu thuật khoan giảm áp kết hợp với ghép xương bằng mảnh xương tự do hoặc mảnh xương có cuống chỉ định với tổn thương hoại tử chỏm xương đùi độ 3. Kỹ thuật ghép mảnh xương có cuống mạch nuôi dưỡng đảm bảo tăng cường được nguồn máu nuôi dưỡng chỏm, nhưng là một vi phẫu rất phức tạp, đòi hỏi phải có kíp phẫu thuật với trình độ chuyên môn rất cao mới thực hiện được.

Chỉ định thay khớp háng bán phần hoặc toàn phần khi tổn thương hoại tử ở độ 4 và độ 5, khi khớp háng không còn chức năng. Sau thay khớp háng nhân tạo, người bệnh có thể đi lại được bình thường. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại khớp háng nhân tạo như chỏm Moore, chỏm Thompson, khớp không xi măng, khớp có xi măng, khớp Pipolair không có ổ cối với chỏm có hai phần nhựa và thép. Tùy từng loại, từng hãng sản xuất mà giá thành rất khác nhau. Loại rẻ nhất khoảng 7 triệu đồng, loại đắt nhất khoảng 40 triệu đồng.

Hiện nay, ở các bệnh viện có chuyên khoa chấn thương chỉnh hình đều có thể chẩn đoán và điều trị bệnh lý hoại tử chỏm xương đùi. Những trường hợp đã được chẩn đoán bị bệnh này nên đến các bệnh viện này để điều trị kịp thời.

Nguồn Suckhoedoisong.vn
Xương khớp


Viết bình luận

Trang chủ * Phòng khám 589 * Thông tin Đau * Thông tin tổng hợp * Thông tin y dược * Liên hệ * Diễn đàn * Google + * English * Di động * Đầu trang