(Phần 1)
Gút
và tăng acid uric trong máu là gì ?
-
Gút là một tình trạng y khoa được
đặc trưng bởi tăng mức acid
uric một cách bất thường trong máu,
những đợt viêm khớp tái phát,
lắng đọng những tinh thể acid
uric cứng trong và quanh khớp,
giảm chức năng thận và sỏi
thận.
-
Gút có đặc điểm duy nhất là
một trong những bịnh được
chẩn đoán thường xuyên qua khai
thác bịnh sử. Nó thường liên
quan đến di truyền về một sự
bất thường trong quá trình xử lý
acid uric trong cơ thể con người.
Acid uric là sản phẩm phân hủy
của purines có trong thức ăn.
Một sự di chuyển bất thường
của acid uric có thể gây ra viêm
đau khớp (cơn gút), sỏi thận, và
tắc những ống lọc trong thận
(do những tinh thể acid uric) dẫn
đến suy thận.
Nói
một cách khác bịnh nhân có thể
có tăng acid uric trong máu nhưng không
có viêm khớp hoặc vấn đề về
thận. Chữ gút thường được
sử dụng liên quan với những cơn
viêm đau khớp.
Ai
bị ảnh hưởng ?
-
Xấp xỉ khoảng 1 triệu người
Mỹ bị những cơn gút. Tỉ lệ
nam:nữ là 9:1. Ở nam bịnh gia
tăng sau tuổi dậy thì và đạt
đỉnh điểm ở tuổi 75. Ở nữ
thì thường xảy ra sau mãn kinh.
- Trong
khi tăng acid uric chỉ ra có liên
quan đến tăng nguy cơ về gút, nhưng
mối liên hệ giữa 2 yếu tố này
chưa rõ ràng. Nhiều bịnh nhân có
tăng acid uric nhưng không phát
triển gút trong khi những người
khác có gút tái đi tái lại
nhiều lần nhưng không có tăng
acid uric trong máu. Dân số nam
của Mỹ có đến 10% là tăng acid
uric trong máu. Tuy nhiên, chỉ một
số nhỏ những bịnh nhân này
bị gút.
-
Viêm đau khớp do gút thường là
một cơn đau dữ dội với sự
khởi phát nhanh của viêm khớp.
Viêm khớp do sự kết tủa của
những tinh thể lắng đọng acid
uric trong dịch khớp và bao khớp.
Viêm khớp xảy ra rất trầm
trọng khi những bạch
cầu làm lắng đọng những
tinh thể acid uric và phóng thích
những chất viêm gây đau, nóng và
đỏ của khớp
Những
yếu tố nguy cơ đối với viêm
khớp trong gút là gì ?
-
Ngoài yếu tố vận chuyển bất
thường acid uric trong máu là do di
truyền, những yếu tố khác là béo
phì, quá trọng, đặc biệt là
những người trẻ, uống rượu
trung bình đến nặng, cao huyết
áp và chức năng thận bất thường.
Những thuốc như lợi tiểu
thiazide, aspirin liều thấp, niacin,
cycloporine, thuốc lao (pyrazinamide và
ethambutol) và những thuốc khác cũng
làm tăng cao acid uric trong máu và
dẫn đến bịnh gút.
Hơn
nữa, những bịnh mà dẫn đến
sự tạo thành acid uric thái quá
trong cơ thể, ví dụ như bịnh
bạch cầu, lymphoma, và những
rối loạn về hemoglobin cũng có
nguy cơ xuất hiện gút.
Một
điều lý thú là những nghiên
cứu mới đây chứng minh có sự
gia tăng những người bị gút có
mức hocmon tuyến giáp thấp.
-
Trong những bịnh nhân với nguy cơ
phát triển bịnh gút, những
trạng thái dự đoán những cơn gút
cấp. Ðó là tình trạng mất nước,
chấn thương khớp, sốt, lặn lâu,
uống nhiều rượu, và mới phẫu
thuật. Những cơn gút khởi phát
bởi phẫu thuật mới đây có
thể
liên quan với những thay đổi
về cân bằng dịch trong cơ thể
do quá trình uống nước không liên
tục trong việc chuẩn bị và sau
phẫu thuật.
Những
triệu chứng của gút là gì ?
Khớp
bàn-ngón chân cái là vị trí thường
gặp nhất trong những cơn gút
cấp. Những khớp khác cũng bị
ảnh hưởng bao gồm cổ chân, đầu
gối, cổ tay, ngón tay, khuỷu. Cơn
gút cấp được đặc trưng bởi
việc khởi phát nhanh những cơn
đau trong những khớp bị ảnh hưởng,
sau đó là sưng nóng, đỏ và đau.
Ðau rất khủng khiếp vì thế
ngay cả việc đắp mền ở vùng
da có khớp viêm cũng không thể
được.
Người
bịnh có thể có sốt trong cơn gút
cấp. Những cơn đau này thường
lui dần và khỏi dù có hoặc không
dùng thuốc. Trong những trường
hợp hiếm, cơn gút có thể kéo dài
vài tuần. Ða số những bịnh nhân
gút sẽ bị những cơn gút tái phát
qua nhiều năm.
Những
tinh thể acid uric có thể lắng đọng
trong những túi nhỏ, dịch quanh
khớp. Những tinh thể urat này có
thể kích thích trong bao khớp
dẫn đến đau và sưng quanh
khớp, được gọi là viêm bao
khớp. Trong những trường hợp
hiếm, gút dẫn đến một kiểu
viêm khớp mãn
giống như viêm đa khớp dạng thấp.
Trong
bệnh gút mãn, có những nốt do
tinh thể acid uric lắng đọng
(tophi) trong những vùng mô mềm khác
nhau của cơ thể. Chúng thường
được tìm thấy nhất là những
nốt cứng tròn quanh ngón tay, ở
đầu khuỷu và quanh ngón cái, nhưng
tophi có thể xuất hiện bất cứ
nơi đâu trong cơ thể. Chúng cũng
được tìm thấy trong những vùng
ít gặp như tai, dây thanh âm,
hoặc hiếm hơn là quanh tủy
sống.
Viêm
khớp trong gút được chẩn đoán
như thế nào ?
-
Gút được nghi ngờ khi bịnh nhân
khai có những cơn viêm đau khớp
lập đi lập lại ở khớp bàn ngón.
Kế đó là khớp cổ chân và
gối. Gút thường chỉ bị mỗi
lần một khớp trong khi ở những
bệnh khác như lupus, viêm đa
khớp dạng thấp, thường bị
nhiều khớp cùng một lúc.
-
Test có giá trị nhất trong gút là
xét nghiệm tinh thể acid uric lấy
được khi chọc khớp. Chọc
khớp được làm với gây tê
tại chỗ, kỹ thuật vô trùng,
dịch khớp được rút ra từ
khớp viêm bằng cách sử dụng
kim chích. Sau đó tìm tinh thể
acid uric trong dịch khớp và
tìm vi trùng. Những tinh
thể acid uric giống như cây kim,
óng ánh được tìm thấy dưới kính
hiển vi có ánh sáng cực tím. Nó
cũng được chẩn đoán bằng tìm
thấy những tinh thể urate từ
những chất lấy ra ở tophi và
bao khớp viêm.
Một
số bịnh nhân có tiền sử và
triệu chứng của gút có thể
được điều trị thành công và
được chẩn đoán là gút mà không
cần chọc khớp. Tuy nhiên, cần làm
test để có chẩn đoán xác định
vì có nhiều tình trạng viêm
khớp giống gút. Nó bao gồm viêm
khớp do những tinh thể khác gọi
là giả gút, viêm khớp trong
bịnh vẩy nến, viêm đa khớp
dạng thấp và ngay cả nhiễm trùng.
X-quang
đôi khi có ích và có thể chỉ
ra sự lắng đọng những tinh
thể tophi và tổn thương xương
do viêm khớp nhiều lần. X-quang cũng
có tác dụng theo dõi những ảnh
hưởng của gút mãn tính lên
khớp.
Theo
BSGĐ
Xem
tiếp phần 2 >>
Cùng
chủ đề
*
Thuốc mới trong điều trị Gout