Vì
sao trẻ lại bị gù lưng?
|
Giải
phẫu cột sống bình thường.
|
Bệnh gù lưng ở trẻ em là bệnh
loạn sản sụn của đốt sống và
đĩa đệm ở vùng cột sống
ngực. Bệnh có gây ảnh hưởng
đến cột sống thắt lưng và
cần phân biệt với những bệnh
lý khác của cột sống thắt lưng.
Tổn thương bệnh lý thể hiện
đốt sống vẹt ở phần trước,
nhân nhầy thoát vị chui vào thân
đốt sống ở phía dưới đĩa đệm,
mặt trên và dưới của thân đốt
sống cong lên chứ không lõm
xuống, đĩa đệm hẹp, sụn đĩa
đệm lồi lõm không đều. Những
tổn thương trên thường xuất
hiện ở vùng lưng, từ đốt
sống ngực thứ 7 đến thứ 11.
Bệnh thường gặp ở nam giới,
đa số bệnh nhân bắt đầu ở
lứa tuổi 13 - 17.
Trẻ
bị loạn sản sụn có thể nhận
biết dễ dàng không?
Gù lưng là biểu hiện điển hình
của bệnh, cột sống lưng gù
cong đều, không có đỉnh gù
nhọn. Do gù ở cột sống nên
cột sống cổ và thắt lưng uốn
cong ra trước (ngược lại cột
sống lưng) để bù trừ. Giảm
sự giãn nở của lồng ngực khi
thở, gây giảm dung tích sống
của phổi.
Đau ở cột sống lưng, mức độ
thường nhẹ, đau có thể lan lên
vùng cột sống cổ và xuống
cột sống thắt lưng, về chiều
đau nhiều hơn buổi sáng. Cũng có
những người bị bệnh này nhưng
không đau đớn gì. Không có
triệu chứng chèn ép tủy hoặc
rễ thần kinh. Trên phim Xquang
nếu thấy hình ảnh bệnh lý như
mô tả ở trên có thể chẩn đoán
xác định bệnh. Cần chú ý phân
biệt với viêm cột sống dính
khớp, lao cột sống, thoái hoá
cột sống.
Cách
điều trị bệnh là gì?
Bệnh nhân nên cố gắng đi
lại, sinh hoạt bình thường. Khi
đau nhiều thì dùng thuốc giảm
đau, đeo đai đỡ cột sống, điều
trị lý trị liệu.
Trong độ tuổi thiếu niên: nên
hạn chế tăng độ gù lưng,
bệnh nhân cần phải nằm trên giường
cứng, không gối đầu; tránh các
gắng sức thể lực và thể thao,
riêng môn bơi có thể thực hiện
ở mức có giới hạn; phải nằm
nghỉ vào buổi trưa ở tư thế
nằm ngửa; dùng kết hợp một
số thuốc giảm đau thông thường
nếu đau lưng nặng lên. Liệu trình
này không được áp dụng kéo dài
quá 6 đến 9 tháng. Tiếp sau cho
tiến hành các biện pháp nắn
chỉnh cột sống do các thầy
thuốc chuyên khoa chỉnh hình hướng
dẫn.
Trong độ tuổi trưởng thành:
thường xuất hiện chứng đau lưng
khi các tổn thương, hư khớp
thứ phát phát triển, nhất là
ở những người bệnh có trạng
thái tâm lý lo âu, rối loạn
thần kinh chức năng. Cần cho
chụp Xquang cột sống để làm cơ
sở cho việc chỉ định các
biện pháp điều trị thích hợp.
Bệnh nhân phải nằm nghỉ tại
giường, tiến hành các biện pháp:
xoa bóp, thể dục liệu pháp. Có
thể kết hợp dùng các thuốc
giảm đau thông thường aspirin,
alaxan... Đôi khi phải cho thêm các
thuốc trấn tĩnh thần kinh.
Phòng
bệnh cho trẻ bằng cách nào?
Biểu
hiện gù lưng ở trẻ em.
|
Để phòng bệnh gù lưng cho trẻ,
các bậc cha mẹ cần chú ý ngay
từ những bước đi chập chững
của trẻ. Cần lựa chọn thời
điểm thích hợp dạy trẻ tập
đi và thực hiện được theo đúng
khả năng của mình, tránh nóng
vội, muốn trẻ ngồi, đi, đứng
quá sớm khiến cột sống non
nớt của trẻ phải gánh đỡ
sức nặng của đầu và thân mình,
dễ khiến trẻ mắc các bệnh
cột sống về sau. Khi trẻ đã
biết đi, cần dạy trẻ đi một
cách tự nhiên, giữ đầu thẳng,
hai vai cân đối, ngực hơi ưỡn
ra phía trước. Đây là giai đoạn
đầu tiên cũng là một trong
những bước quan trọng nhất tránh
cho trẻ bị gù hay cong vẹo cột
sống sau này. Khi trẻ bước vào
tuổi đến trường, cần tạo cho
trẻ thói quen ngồi học đúng tư
thế. Trẻ em tuổi mẫu giáo nếu
phải ngồi học hay xem vô tuyến
lâu, cột sống rất dễ bị gù,
vẹo do hệ cơ bắp chưa đủ
sức đỡ được trọng lượng cơ
thể trong thời gian dài. Đối
với trẻ lớn hơn, cấp tiểu
học hay trung học cơ sở, trẻ thường
hay ngồi bò ra bàn, ép ngực vào
thành bàn, nghiêng vẹo cổ để
viết nên dễ bị biến dạng
cột sống. Nhiều học sinh bị
cong vẹo cột sống hay gù, vai
bị lệch, vai cao vai thấp do cột
sống bị xoay. Do đó, trẻ cần
được tạo những điều kiện
sinh hoạt, vui chơi, hoạt động
thoải mái để trẻ có thể thay
đổi tư thế cột sống thường
xuyên, kết hợp các hoạt động
thể lực và nghỉ ngơi một cách
hài hòa, hợp lý. Mỗi học sinh cũng
cần được sắp xếp một vị trí
ngồi trong lớp hợp lý để có
thể nhìn rõ bảng mà không phải
ưỡn hay dướn, ngó nghiêng người
dễ dẫn đến bị cong vẹo cột
sống.
Ở gia đình, cha mẹ cũng cần
luôn quan sát, nhắc nhở trẻ đi
đứng, ngồi học đúng tư thế.
Nếu trẻ có những dấu hiệu khác
thường thì kịp thời chấn
chỉnh, tránh để thành tật do tư
thế không đúng.
PGS.
Vũ Quang Bích (suckhoedoisong.vn)