Một
vài đặc điểm về bệnh
Mật
độ xương BMD (bone material
density) trung bình ở người khỏe
mạnh lúc trẻ là T1, lúc mãn kinh
là T2. Độ lệch chuẩn T tính
bằng bằng T2/T1. Theo WHO, được
coi là bị LX khi T < (-2,5).
Tuy
nhiên, BMD thay đổi rất chậm,
việc so sánh giá trị tuyệt đối
qua từng thời kỳ, cũng như với
BMD chuẩn rất khó. Trong chu
chuyển xương (tạo, hủy xương)
có tạo ra một số chất, dẫn
chất (tiết vào máu, nước
tiểu) mà chỉ số của chúng có
thể đo được (như hydroxyprolin,
hydroxylysin - glycosid, pyridinolin,
desoxypyridinlin, propetid proclagen
loại I, osteocalin, phosphatse
kiềm). Tuy nhiên, các chỉ số này
còn phụ thuộc vào một số yếu
tố khác (tuổi, giới tính, loại
xương). Cho nên, chưa thể dùng các
chỉ số đó để tiên lượng
tỷ lệ mất xương, chẩn đoán
LX. Mặt khác, thực tế có khi chưa
đạt đến độ lệch chuẩn T
vẫn bị gãy xương. Vì vậy, ngay
khi có triệu chứng lâm sàng rõ
thì điều trị, không chờ xét
nghiệm độ lệch chuẩn T.
Triệu
chứng LX bao gồm: bị đau trong
cả ống xương, chứ không phải
chỉ đau ở khớp, đau như có
kiến bò trong xương, không dữ
dội, nhưng khó chịu. Các khớp xương
bị hư hại trong đó các chất
dịch giảm về số lượng, giảm
chất lượng và bị loãng ra nên
khớp bị khô kêu răng rắc, không
mềm dẻo như trước. Các khớp xương
sống bị chùn lại, người bị
thấp xuống (so với khi trẻ),
nặng hơn là lưng còng xuống.
LX
có liên quan đến việc giảm
hấp thu vitamin D, canxi, phosphor (vì
chức năng bộ máy tiêu hóa giảm
sút, vì ít tiếp xúc với ánh sáng),
ở nữ có liên quan rất rõ đến
việc giảm estrogen lúc mãn kinh
(MK), ở nam có thể liên quan nhưng
không rõ đến giảm testosteron ở
tuổi trên 40. Nữ (MK) có khoảng
50 - 60% bị LX, trong khi ở nam
tuổi tương đương tỷ lệ này
chỉ 10%.
LX
cũng có thể do rối loạn tuyến
cận giáp, do dùng corticoid.
LX
làm giảm chất lượng cuộc
sống. Hậu quả nghiêm trọng là
gây gãy xương (dù va chạm rất
nhẹ) để lại di chứng tàn phế
suốt đời hoặc tử vong (sau gãy
xương hông, người bệnh chỉ
sống thêm chỉ khoảng 1 năm).
Quá
trình tạo, hủy xương diễn ra
suốt chiều dài cuộc đời, khi
trẻ quá trình tạo xương lớn hơn,
khi già quá trình hủy xương
chiếm ưu thế. Cách phòng ngừa
LX chủ động nhất là dùng đủ
canxi, vitamin D ngay từ khi còn
trẻ (ở tuổi nhỏ, tuổi trưởng
thành, trước tuổi 26), nhằm giúp
xương phát triển hoàn thiện. Nhu
cầu hấp thu canxi mỗi ngày ở người
lớn là 800mg. Khi vitamin D (biểu
thị bằng nồng độ 25 (OH) D3 máu)
< 50nmol/L là thiếu, từ 50 - 80
nmol/L là hụt và > 80nmol/ L là
đủ (tốt nhất ở khoảng 100 -
120nmol/l).
Khi
bị LX cần chữa càng sớm càng
tốt. Cần dùng cả thuốc giúp quá
trình tạo xương và cả thuốc
chống, làm chậm quá trình hủy xương.
Mỗi người có tình trạng bệnh,
sự đáp ứng thuốc khác nhau,
cần chọn lựa thích hợp (loại,
liều lượng, cách dùng).
Vẫn
cần bổ sung canxi và vitamin D
Khi
đủ vitamin D, sự hấp thu từ
thức ăn của canxi tăng (30%),
phospho tăng (80%); nồng độ canxi,
phospho máu tăng, tạo thành
tricalciphosphat, gắn vào khung xương,
làm tăng quá trình tạo xương.
Theo đó, bổ sung canxi, vitamin D
sẽ làm tăng BMD, giảm gãy xương.
Song các thực nghiệm cho thấy không
diễn ra hoàn toàn suôn sẻ như
thế.
Một
tổng phân tích từ 15 nghiên cứu
cho thấy với nữ khỏe mạnh,
nữ sau MK, bổ sung canxi sau 2 năm
làm tăng BMD gần 2% nhưng không làm
giảm tỷ lệ gãy xương đốt
sống và các xương khác có ý nghĩa
thông kê (Shea B- Well sC Craney
A-2002).
Các
nghiên cứu qui mô lớn, tại các
nhà dưỡng lão cho thấy: bổ sung
vitamin D3 với liều 800IU/ngày
trong mỗi 4 tháng, làm giảm 33% gãy
xương ngoài đốt sống so với nhóm
chứng (Trivedi DP-2003).
Tỷ
lệ giảm gãy xương chậu, ngoài
đốt sống trong nghiên cứu trên
3.370 nữ cao tuổi với liều mỗi
ngày 1.200mg canxi + 800IU vitamin D3
lần lượt là 43% - 32% (Pháp-1992),
song trong một nghiên cứu khác
(JAMA293:2257- 2264) với liều mỗi
ngày700 - 800IU vitamin D3, chỉ
giảm lần lượt là 26 - 23%.
Thậm chí trong nghiên cứu trên
36.000 nữ MK với liều mỗi ngày
1.000mg canxi + 400IU vitamin D3 không
làm giảm gãy xương (WHI*-2006).
Loại
trừ yếu tố canxi (có thể gây
nhiễu các kết quả) chỉ dùng
vitamin D3 mỗi ngày 800IU thì nồng
độ 25 (OH) D3 tăng từ 38nml/L
(mức thiếu nặng) lên 70nmol/L
(mức hụt) và không làm giảm gãy
xương. Tuy nhiên nhận thấy, khi
mức thiếu vitamin nhiều (nồng độ
25 (OH)D3 <42nmol/lL) mà nâng lên
ngang với mức đủ (nồng độ
100nmol/ L) thì hiệu quả thể
hiện rõ.
Hiện
nay, vẫn khuyến cáo bổ sung
canxi, vitamin D trong LX nhưng chú ý:
kiểm tra vitamin D canxi máu trước
khi dùng, khoảng 3 tháng cần
kiểm tra lại, đánh giá sự đáp
ứng. Nếu các chất này đã đạt
ngưỡng cần thiết thì ngừng
thuốc, khi nào thấy thiếu sẽ dùng
lại. Về liều lượng: trước đây
khuyến cáo với nữ MK mỗi ngày
dùng 1.200 - 1.500mg canxi + 800IU
vitamin D. Nay, tính toán liều theo
tình trạng bệnh và sự đáp
ứng của từng người trong khung
mỗi ngày canxi từ 600 - 1.000mg,
vitamin D cao nhất 800IU. Trong thời
gian dùng, nếu thấy có biểu
hiện viêm dạ dày (thường gặp)
hay sỏi thận (hiếm khi gặp) thì
phải ngừng dùng.
Ưu
nhược điểm estrogen và chất điều
hòa chọn lọc thụ thể estrogen
Estrogen
có vai trò trong tạo xương nữ,
ung thư vú. Dùng estrogen sẽ làm tăng,
dùng chất điều hòa chọn lọc
thụ thể estrogen sẽ làm giảm
hormone này, do thế, sẽ gây các tác
dụng phụ tương ứng.
Erogen:
bổ sung estrogen trong liệu pháp
thay thế hormone (HRT) làm tăng 5 -
10% BMD, làm giảm 27 - 33% gãy xương,
sau khi ngừng dùng 5 năm, các kết
quả này mất đi (Lind say R-1980 -
Lufkin EG 1992 Torgerson DJ --2001).
Liệu pháp này không hơn các
liệu pháp khác. Trong khi đó, dùng
lâu dài lại làm tăng nguy cơ ung
thư nội mạc tử cung, ung thư vú,
tăng nguy cơ bệnh tim mạch, gây
huyết khối tắc nghẽn mạch, đột
quị. Hiện nay, tuy vẫn còn dùng
HRT (khi cần, cho nữ MK ít tuổi,
trong thời gian ngắn), nhưng không
dùng điều trị LX.
Tamoxifen:
tamoxifen đối kháng với estrogen
tại mô vú (chống ung thư vú), nhưng
đồng vận với estrogen tại xương
(chữa LX). Về lý thuyết, dùng
tamoxifen như bắn một mũi tên
được hai đích. Tuy nhiên, thực
tế, tamoxifen có hiệu quả cao
với ung thư vú (làm giảm nguy cơ
tái phát, tử vong; giảm nguy cơ
phát sinh ung thư mới ở vú đối
diện; có tác dụng nâng đỡ tích
cực ở tất cả các giai đoạn
ngay cả khi đã di căn), nhưng có
hiệu quả rất hạn chế với LX.
Trong khi đó, tamoxifen có thể gây
nên các triệu chứng giống suy
giảm estrogen khi MK (bốc hỏa, đổ
mồ hội, băng huyết nhẹ, tăng
canxi huyết). Đáng chú ý hơn, gây
huyết khối thuyên tắc tĩnh
mạch (chân sưng, thở khó), rối
loạn thị giác (ở liều cao), tăng
ung thư nội mạc tử cung. Hiện
nay rất ít dùng tamoxifen trong điều
trị LX.
Raloxifen:
Raloxifen kháng với estrogen tại mô
vú nhưng đồng vận với estrogen
tại xương, đều cho hiệu quả
khá cao trong điều trị ung thư vú
cũng như LX. Các nghiên cứu tại
Âu - Mỹ gần đây xác nhận:
raloxifen làm tăng BMD lên 2,3 - 2,5%
ở tất cả các vị trí xương,
đặc biệt ở xương sống thắt
lưng, hông; làm giảm tỷ lệ gãy
xương cột sống ở nữ đã có
tiền sử và chưa có tiền sử gãy
xương đốt sống lần lượt là
30 - 50%; đồng thời làm giảm 70%
tần suất ung thư vú, giảm
cholesterol toàn phần, giảm
cholesterol xấu (LDL), làm chậm
sự suy giảm nhận thức theo
tuổi (MORE*-1999-2002). Raloxifen ít
độc hơn: các tác dụng phụ
giống suy giảm estrogen lúc MK
chỉ thoáng qua; không gây ung thư
nội mạc tử cung, rất hiếm khi
gây huyết khối thuyên tắc tĩnh
mạch (Cauley JA-2001). Hiện nay,
raloxifen được dùng nhiều trong
LX.
Xem
Phần 2 >>
DS.CKII.
BÙI VĂN UY - suckhoedoisong.vn
Cùng
chủ đề:
Bệnh
loãng xương