Home Engl Mobi Foru G+ Face 



Phong bế hạch sao

1. Chỉ định.

Kỹ thuật phong bế hạch sao thường được sử dụng cho chẩn đoán phân biệt và là kỹ thuật điều trị tốt các chứng đau trung gian giao cảm ở chi trên. Đau trung gian từ phát không thường tương ứng với sự phân bố thần kinh ngoại vi hay phân đoạn tủy cổ. Phong bế hạch sao dùng để chẩn đoán và điều trị đau do căn nguyên giao cảm, bao gồm đau mặt, đau đầu, đau cổ, và các chứng đau ở chi trên như: loạn dưỡng giao cảm phản xạ, herpes zoster cấp và đau chi ma.

2. Đặc điểm giải phẫu.

- Hạch sao được tạo thành bởi hạch giao cảm cổ dưới và hạch giao cảm ngực thứ nhất, có vị trí ở giữa mặt trước bên của thân đốt C6.

3. Kỹ thuật.

- Bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa với một cái gối kê dưới vai để cổ được duỗi thẳng. Sờ xác định mấu ngang của đốt cổ C6 giữa vòng sụn thanh quản và động mạch cảnh.

- Chuẩn bị bệnh nhân bằng kiểu vô trùng tiêu chuẩn, dùng kim 4cm, 22 gauge để xuyên thẳng đến khi chạm vào mỏm ngang C6 thì nhích kim trở ra một chút, thử hút bơm tiêm nếu không có máu thì bơm một lượng thuốc tê khoảng 1ml để thử.

- Sau khi liều thử không thấy có gì bất thường và hút lần nữa không có máu thì tiến hành tiêm 9ml thuốc tê với các liều được chia nhỏ dưới sự giám sát của Monitoring để phong bế hạch sao.

- Kỹ thuật phong bế hạch sao đòi hỏi năng lực kiểm tra và theo dõi toàn diện các chỉ số sinh tồn và nhiệt độ trước, trong và sau tiến trình thủ thuật (tốt nhất là theo dõi bằng máy monitoring). Tiếp tục theo dõi bệnh nhân về ý thức hoặc các phản ứng bất lợi. Phong bế hạch sao được thành công khi xuất hiện sự tăng nhiệt độ ở bên phong bế và những dấu hiệu của hội chứng Horner (co đồng tử, sụt mi mắt, khô nước, và lõm mắt), và đôi khi xuất hiện xung huyết mũi và khản giọng (Hình 3.3).

303 Phong Be Hach Sao

Hình 3.3. Phong bế hạch sao

 4. Biến chứng.

- Không thực hiện kỹ thuật này khi không có đầy đủ các phương tiện kiểm soát do những tai biến có thể xảy ra đối với động mạch cảnh, tĩnh mạch cảnh, dây thần kinh X, động mạch đốt sống thân nền, khí quản, thực quản, phổi và màng cứng.

- Tiêm thuốc tê vào động mạch và màng cứng có thể gây tai biến ngập máu, ngừng thở, ngừng tim, phá hủy não với nhiều di chứng và biến chứng nặng nề khác thậm chí gây tử vong. Nguy cơ tiêm vào mạch máu giảm nếu sử dụng liều thử và liều tổng được chia ra nhiều lần cùng với động tác hút thử máu được sử dụng trước mỗi khi bơm thuốc. 

Xương khớp


Viết bình luận

Trang chủ * Phòng khám 589 * Thông tin Đau * Thông tin tổng hợp * Thông tin y dược * Liên hệ * Diễn đàn * Google + * English * Di động * Đầu trang