Home Engl Foru G+ Face 



Thuốc đặc hiệu dùng trong bệnh khớp

(ĐTĐ) - Còn gọi là các thuốc làm thay đổi bệnh khớp (Disease-modifying antirheumatic drugs - DMARDs), tác động bằng cách ức chế các quá trình cơ bản gây viêm khớp trong các bệnh viêm khớp dạng thấp (RA), viêm cột sống dính khớp, và viêm khớp vảy nến.
 

Những loại thuốc này không chỉ điều trị các triệu chứng viêm khớp, mà còn có thể làm chậm tiến trình phá hủy khớp. Một số thuốc loại này từng được sử dụng để điều trị các bệnh khác, chẳng hạn như ung thư hoặc bệnh viêm ruột, hoặc để làm giảm nguy cơ thải ghép.

1. Thuốc chống sốt rét tổng hợp nhóm quinolon.

- Cơ chế tác dụng: Thuốc có thể có tác dụng ức chế giải phóng men lysozym (tiêu thể) bằng cách làm bền vững màng của lysosom, do đó làm giảm phản ứng viêm trong các bệnh khớp, thuốc chỉ có tác dụng khi dùng kéo dài nhiều tháng nên hay được dùng để điều trị duy trì, củng cố.

- Chỉ định: Bệnh lupus ban đỏ rải rác, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp mạn tính thiếu niên thể đa khớp, các thể khác của bệnh tạo keo như xơ cứng bì, viêm da và cơ...

- Chế phẩm và liều lượng: Amin-4 quinolein (Bd: Cloroquin, Nivaquin, Flavoquin, Resoquin, Camoquin, Delagyl...) viên 100-200mg. Mỗi ngày uống 200mg (4mg/kg/24h), uống kéo dài từ 3 tháng đến 1 năm để điều trị duy trì, củng cố.

- Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiền đình xuất hiện trong 3 tháng đầu; đục giác mạc, tổn thương võng mạc, xạm da, nhược cơ, rối loạn điều tiết mắt xuất hiện muộn hơn (sau 1 năm). Dùng kéo dài trên 2 năm có thể gây tổn thương võng mạc nặng không hồi phục.

Cần chú ý khám mắt định kỳ nếu dùng thuốc quá 6 tháng.

2. Muối vàng.

- Muối vàng được sử dụng từ năm 1929 ở Pháp để điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp thấy có kết quả, cơ chế tác dụng có thể do ức chế men tiêu thể và khả năng hoạt động của đại thực bào, hiện nay được dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp thể nặng không đáp ứng với các thuốc khác. Là loại thuốc điều trị cơ bản bệnh, có nhiều tai biến nên chỉ có khoảng 30% số bệnh nhân chịu đựng được thuốc.

- Chế phẩm và liều lượng:

+ Dạng tiêm: Bd Allochrysin (aurothiopropanolsulfonat Na) ống 2ml chưa 25-50-100-200mg, tiêm bắp mỗi tuần 1 lần liều từ 25mg tăng dần từng tuần, cho đến 200mg duy trì, tổng liều một đợt tiêm là 1000-1500mg.

+ Viên Auranofin 3mg, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 viên kéo dài nhiều tháng.

- Tai biến: dị ứng ngoài da, sốt cao, viêm niêm mạc tiêu hóa, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu, thiếu máu. Cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc để kịp thời dừng điều trị.

3. D-Penicillamin hay Dimethylcystein (Trolovol Kupren).

- Cơ chế tác dụng có thể là do phá hủy phức hợp miễn dịch, yếu tố dạng thấp. Được dùng để chữa viêm khớp dạng thấp thể nặng, thể ngoan cố.

- Cách dùng: mỗi ngày uống 200mg (Trolovol 100mg x 2viên) kéo dài 1-2 tháng, nếu thấy không tác dụng thì tăng liều 600mg/24h tiếp theo 2-3 tháng, nếu không thấy kết quả thì dừng thuốc.

- Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, dị ứng da, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu... cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc.

4. Thuốc ức chế miễn dịch.

- Dựa vào cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp và các bệnh tạo keo là các bệnh tự miễn dịch, người ta sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch để điều trị những trường hợp nặng và ngoan cố với các thuốc khác.

- Methotrexat liều nhỏ: Là một thuốc ức chế chuyển hóa do ức chế tổng hợp DNA. Do thuốc có cấu trúc tương tự acid folic nên nó tranh chấp với acid này tại vị trí hoạt động của nó trong quá trình tổng hợp pyrimidin dẫn đến giảm tổng hợp DNA. Ngoài ra methotrexat có thể có tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch. Thuốc được chỉ định để điều trị viêm khớp dạng thấp và thấp khớp vẩy nến với liều thấp 7,5-15mg mỗi tuần một lần (uống hoặc tiêm bắp). Cách dùng: mỗi tuần 2,5mg x 3 viên, chia 3 lần cách nhau 8 giờ. Hoặc tiêm bắp mỗi tuần một mũi duy nhất 15mg. Có thể dùng duy trì nhiều năm nếu có hiệu quả hoặc không có tác dụng phụ. Sau 3 tháng nếu thuốc không có tác dụng thì ngừng. Liều cao được chỉ định điều trị ung thư.

Tác dụng phụ: giảm bạch cầu, độc gan thận, tổn thương mô phổi.

- Sulfasalazine: là sự kết hợp của 5-aminosalisylic và sulfapyridin, có tác dụng ức chế các E của lympho, ức chế hoạt hóa tế bào lympho B và ức chế hoạt hóa các tế bào tiêu diệt tự nhiên, ức chế lympho B sản suất các Tg và yếu tố dạng thấp. Trong điều trị viêm khớp dạng thấp, dùng thuốc với liều 0,05 X 2-6 viên mỗi ngày.

- Leflunomide (Arava): Thuốc ức chế tổng hợp pyrimidin của con đường chuyển hóa novo. Trong điều trị viêm khớp dạng thấp, thuốc được dùng với liều viên 100mg x 1 viên/ ngày trong 3 ngày đầu, sau đó duy trì viên 20mg x 1 viên/ ngày. Đến khi đạt được kết quả thì giảm xuống liều 10mg/ ngày. Dùng thuốc đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

- Cyclophosphamide (Cytoxan, Endoxan 50mg): Thuộc nhóm ankylan, có tác dụng liên kết với acid nhân và protein bởi các mối gắn với phân tử lớn trong tế bào, thuốc còn ức chế phản ứng miễn dịch thứ phát. Chỉ định trong luput có tổn thương thận. Thường dùng với corticoid. Liều khởi đầu 2-3mg/kg/ngày uống một lần duy nhất vào buổi sáng, liều duy trì khoảng 50-200mg/ngày.

- Cyclosporin A (Neoral viên 25 và 100mg, Sandimmun ống 100mg): Thuốc ức chế các pha ban đầu của sự hoạt hóa tế bào T, do đó ngăn chặn sớm sự ức chế các gen. Chỉ định trong các bệnh tự miễn, các thể viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến kháng thuốc. Liều: 2-5mg/kg/ngày chia 2 lần. Dùng đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

- Azathioprin (Imuran 50mg): ức chế tổng hợp purin, chỉ định trong luput, viêm mạch, viêm khớp dạng thấp. Liều: 2-3mg/kg/ ngày.

Các thuốc trên thường dùng với liều trung bình và kéo dài từ 1-3 tháng. Chú ý nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ nhất là các tai biến về máu, nên khi dùng phải theo dõi chặt chẽ. 

5. Thuốc ức chế TNF

Yếu tố hoại tử khối u alpha (Tumor Necrosis Factor-alpha - TNF-alpha) là một protein do cơ thể sản sinh ra trong phản ứng viêm, trong phản ứng của cơ thể với chấn thương. TNF thúc đẩy quà trình viêm, sốt và các dấu hiệu có liên quan (đau, nhạy cảm đau và sưng) trong một số bệnh cảnh viêm gồm cả viêm khớp dạng thấp. Do đó, các thuốc ức chế TNF-alpha sẽ có tác dung chống viêm, giảm đau, giảm sưng tại các tổ chức viêm, và có thể làm chậm sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp (VKDT), viêm cột sống dính khớp(VCSDK) và viêm khớp vảy nến (VKVN), đặc biệt là khi dùng kết hợp với methotrexate. Hiện tại có ba chất ức chế TNF-alpha đã được dùng bao gồm etanercept (Enbrel®), infliximab (Remicade®), và adalimumab (Humira®)

6. Thuốc ức chế Interleukin

6.1. Actemra

Ở các bệnh nhân viêm khớp có sự tăng chất IL-6 (interleukin-6), một chất hóa học truyền tin tham gia vào phản ứng miễn dịch phá hủy ở trung tâm của viêm khớp. Actemra được dùng bằng dạng dịch truyền trong một giờ, mỗi tháng một lần, là thuốc ức chế IL-6 đầu tiên dùng cho viêm khớp. Actemra được chỉ định cho các bệnh nhân viêm khớp dạng thấp mức độ vừa và nặng không đáp ứng với một hoặc nhiều chất ức chế TNF. Actemra không dùng kết hợp với các thuốc ức chế TNF (Cimzia, Enbrel, Humira, Remicade, và Simponi) hoặc phương pháp trị liệu sinh học khác cho điều trị viêm khớp. Tuy nhiên, nó có thể được dùng kết hợp với các thuốc DMARD khác như methotrexate.

6.2. Diacerein.

Diacerin (Artrodar, Diasanté…)  mới được sử dụng là dẫn chất acetylate của chất dihydro anthraquinone rhein diacerein có tác dụng ức chế interleukine 1α (IL- 1beta) từ đó có tác dụng chống viêm trong điều trị viêm khớpg, thoái hóa khớp.

Cơ chế ác dụng: ức chế sự sản xuất và hoạt động của chất Cytokine IL-1α tiền viêm và tiền dị hóa cả ở lớp nông và lớp sâu của sụn, màng hoạt dịch và các thành phần của chất căn bản ngoài tb như Proteoglycan, aggrecan, acid hyaluronic và chất tạo keo type II).

Diacerein viên 50mg/ lần ngày uống 2 lần, uống kéo dài . Diacerein uống có thể đái nước tiểu màu đỏ thường không có nguy hiểm chỉ cần biết và giải thích cho bệnh nhân yên tâm.

Xương khớp

Xem thêm


Viết bình luận