Home Engl Mobi Foru Face 



Điện di thuốc

1. Khái niệm.

- Điện di thuốc (electrophoresis) (còn gọi là điện phân thuốc) là phương pháp dùng dòng điện một chiều để di chuyển một số ion thuốc điều trị vào cơ thể hoặc lấy các ion thuốc có hại ra khỏi cơ thể.

- Nguyên lý của phương pháp điện di là: Các điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, trái dấu thì hút nhau. Một dung dịch mà trong đó chất hòa tan có thể phân ly thành các ion (gọi là dung dịch điện ly), khi được đưa vào một điện cực và cho dòng điện một chiều chạy qua thì các ion cùng dấu với điện cực đó sẽ bị đẩy ra khỏi điện cực để đi vào cơ thể. Ngược lại nếu muốn lấy một ion có hại (ví dụ ion Ca+) ra khỏi cơ thể thì ta đặt điện cực trái dấu vào vùng da nhiễm ion, điện cực đó sẽ hút các ion này ra khỏi cơ thể về phía nó.

2. Đặc điểm tác dụng của điện di thuốc.

- Tác dụng của điện di thuốc gồm tác dụng do dòng điện một chiều đều và tác dụng do ion thuốc gây ra. Trong đó, tác dụng của ion thuốc được đưa vào bằng điện di có hiệu lực tăng lên gấp nhiều lần so với các đường khác. Sau đây xin giới thiệu một số ion thuốc thường dùng:

Dung dịch thuốc

Ion tác dụng

Cực

Tác dụng điều trị

Kali-Natri iodure (INaIK) 5%

I

Làm mềm tổ chức sẹo

Natri clorua (NaCl) 5%

Cl

Tạo phản xạ chống viêm khớp

Kali-Natri bromua (BrNa-BrK)

Br

An thần

Natri salicylat 5%

Salicylat

Chống viêm giảm đau

Novocain 5%

Novocain+

+

Giảm đau

Hydrocortison acetat

Hydrocortison+

+

Chống viêm

Nivalin

Nivalin+

+

Tăng cường dẫn truyền thần kinh

- Khi cần ion thuốc gì thì đưa ion thuốc đó vào, các thành phần khác bị giữ lại ở điện cực do đó không gây phù nề tổ chức như khi tiêm.

- Không gây tổn thương da, không gây đau, không gây khó chịu và không gây lây truyền các bệnh đường máu như khi tiêm.

- Tại chỗ đặt điện cực đưa thuốc, nồng độ thuốc cao thích hợp cho những tổ chức ít mạch máu như sẹo... mà khi dùng thuốc các đường khác ít tác dụng.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến điện di thuốc.

- Thuốc phải hòa tan được trong nước, có khả năng phân ly thành các ion, không bị dòng điện phá huỷ và ion thuốc khi vào cơ thể có thể tái hợp lại được. Cho nên số loại thuốc có thể dùng để điện di không nhiều.

- Dung dịch thuốc phải tinh khiết các điện cực vải đệm phải sạch để tránh ion ký sinh khi điều trị làm choán chỗ hay vô hiệu hóa ion thuốc.

- Đặt thuốc đúng điện cực có ý nghĩa quyết định: theo nguyên tắc cho thuốc vào điện cực cùng dấu với ion tác dụng.

- Nồng độ dung dịch phải đạt tối ưu để có hiệu quả cao, nếu nồng độ thấp thì hiệu quả thấp, nhưng nếu nồng độ quá cao lại gây trở ngại cho quá trình di chuyển ion thuốc trong tổ chức.

- Điện cực: gồm điện cực kim loại và vải đệm. Các điện cực kim loại đều gây phá hủy thuốc nên không cho thuốc tiếp xúc với điện cực này. Điện cực vải đệm dầy khoảng 1cm, được giặt sạch dưới vòi nước chảy, tốt nhất nên sử dụng mỗi tấm điện cực dùng cho một loại thuốc.

- Liều lượng: gồm cường độ và thời gian. Cường độ cho theo diện tích điện cực (kim loại) tác dụng (điện cực có thuốc) với 0,01-0,2mA/cm2. Thời gian mỗi lần không quá 20 phút, nếu quá sẽ gây nên hiện tượng cực hóa không còn tác dụng điện di. Liều thuốc đưa vào có thể tính tương đối theo công thức: D = I x S x E x T; Trong đó: D là liều thuốc (mg), I là cường độ dòng điện (mA), E là điện tích của ion (Q), T là thời gian điện di (phút).

4. Phương pháp chỉ định điều trị.

- Thuốc: gồm tên thuốc, nồng độ, dấu điện cực cho thuốc (điện cực tác dụng).

- Diện tích điện cực tác dụng: ghi diện tích theo cm2 hoặc ghi kích thước các cạnh của điện cực.

- Vị trí đặt điện cực tác dụng và điện cực trung tính.

- Cường độ dòng điện: cho theo diện tích điện cực tác dụng với 0,01-0,2mA/cm2.

- Thời gian mỗi lần không quá 20 phút, nếu quá sẽ gây nên hiện tượng cực hóa không còn tác dụng điện di.

- Thời gian một đợt điều trị: khoảng 10-30 ngày.

5. Chỉ định và chống chỉ định.

5.1. Chỉ định:

- Giảm đau hoặc cắt cơn đau trong các chứng đau do nguyên nhân thần kinh, chấn thương, co mạch (chứng co thắt mạch ngoại vi, hội chứng Raynaud, viêm tắc động mạch, viêm tắc tĩnh mạch).

- Chống viêm mạn như viêm khớp, viêm dây thần kinh, viêm da, viêm màng tiếp hợp…

- Tăng dinh dưỡng và tuần hoàn tại chỗ điều trị vết thương vết loét lâu liều, sẹo xơ cứng, teo cơ.

- Tạo phản xạ đốt đoạn điều hòa các rối loạn của các cơ quan nội tạng ở sâu và ở xa chỗ đặt điện cực. Điều hòa quá trình hưng phấn và ức chế của vỏ não.

- Đưa một số thuốc vào cơ thể (điện di) để điều trị như: novocain 0,5% (cực dương), natri salisylat (cực âm)... hay lấy một số thuốc ra khỏi tổ chức cơ thể như Ca++, chì...

5.2. Chống chỉ định:

- Viêm da nhiễm khuẩn, eczema nhiễm khuẩn tại vùng da định đặt điện cực.

- U ác tính (dòng điện kích thích tế bào u phát triển).

- Sốt cao, tâm thần, dị ứng với dòng điện một chiều đều.


Viết bình luận

Trang chủ * Thông tin Đau * Tư vấn Đau * Thông tin tổng hợp * Thông tin y dược * Liên hệ * Diễn đàn * Google + * English * Di động * Đầu trang