Thoái hoá khớp liên quan đến chấn thương thể thao

1. Cấu tạo khớp bình thường

Ở khớp hoạt dịch bình thường các đầu xương được bao phủ bởi sụn khớp trong và mặt được bôi trơn bằng nước hoạt dịch tạo ra từ màng hoạt dịch nâng đỡ bởi nang khớp sợi thớ. Khi xem xét các vết thương khớp nối liên quan đến thể thao thì điều quan trọng xét kỹ giải phẫu bệnh học và sinh lý bệnh học của yếu tố cá  nhân có thể là đối tượng cho các lực gây chấn thương.

Thoái hoá khớp liên quan đến chấn thương thể thao

Cấu tạo khớp bình thường

Màng hoạt dịch là một màng mỏng vạch bởi một lớp duy nhất các tế bào con suốt hoặc một hay nhiều lớp tế bào hình trứng hay hình đa giác. Các tế bào nội mạc đó hoàn toàn cách biệt với mô trong bởi một màng, mô này có thể rỗ, có thể có thớ dày đặc  hoặc có mỡ ở các phần khác của khớp. Về chức năng, có thể phân biệt bằng kính hiển vi điện tử hai kiểu tế bào nội mạc: (i) týp A, nhiều hơn, liên quan đến sự hấp thu, trong khi (ii) týp B thì tổng hợp các mucoplysaccharid như hyaluronat.

Màng hoạt dịch có thể phẳng hoặc gấp nếp. Đặc biệt ở mép không nối để tạo ra các nhung mao. Thực tế nó bao gồm toàn bộ các bề mặt khớp nối từ sụn khớp và sụn chêm. Màng hoạt dịch có một mạng lưới đầy các mạch máu có hoạt tính chuyển hoá rất mạnh và quan trong trong phản ứng của vết thương.

Hoạt dịch là một sản phẩm thẩm phân của huyết tương cùng với acid hyaluronic, chất này làm cho dịch có tính chất nhớt. Người ta tin rằng tỷ lệ acid hyaluronic giảm đi khi tuổi cao lên. Trong tình huống bình thường, khớp hoạt dịch chứa ít nhất 1m dịch hoạt dịch. Thường có 50-400 tế bào có nhân trong một mm3, ít tế bào đa hình thể và khoảng 20% lympho bào, một ít tế bào hoạt dịch và đa số các thực bào đơn nhân phát sinh từ các tế bào mô hoạt dịch. Về mặt hóa sinh, albumin và globulin hiện hữu với nồng độ thấp trong dịch hơn là trong huyết tương, với tỷ lệ  albumin/globulin là 4/1. Nồng độ glucose thường thấp hơn trong máu. Các dịch hoạt dịch là yếu tố quan trọng trong sự nuôi dưỡng sụn khớp. Như để đáp ứng với thương tích thường có sự tăng sinh hoạt dịch (tràn ngập) làm cho khớp nối sưng phồng. Người ta tin rằng sự tuần hoàn hoạt dịch là cơ chế quan trọng để duy trì sự trơn của khớp nối và tình trạng nuôi dưỡng sụn khớp.

2. Sinh lý bệnh học thoái hoá khớp nguyên phát

2.1. Sụn khớp

Sự vỡ toàn bộ mạng lưới collagen cùng với sự giảm bớt số lượng vật chất cơ bản trong khuôn sụn phần nhiều do gãy xương là hậu quả của sự giải phóng enzymlysosom từ các tế bào sụn bị phá hoại (Cappel và Anderson, 1977). Tiếp theo sụn khớp sù sì ra, ban đầu là do cọ sát lớp bề mặt và sau đó do sự tách dọc và phân lìa. Sự tăng sinh các nhóm nhỏ tế bào sụn ở sâu hơn và tăng sinh tại chỗ các chất nền ở giáp ranh vùng thoái biến có thể được thừa nhận là nhằm hàn gắn. Tuy nhiên quá trình này thường không có hiệu quả và có thể tiếp đó là tiếp tục mất các chất sụn tạo ra những lỗ ăn mởn bản xương sụn nhiều khi bộc lộ ra. Xét nghiệm X quang có thể thấy sự gảim khoảng cách khớp nối và đây là dấu hiệu chẩn đoán có ích. Gần đây do sử dụng phương pháp hiển ảnh cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging-MRI) có thể thấy sự thay đổi sớm ở sụn khớp và lưu ý đến dấu hiệu báo động cho vận động viên.

2.2. Xương

Khi sụn khớp dần dần mỏng đi thì mặt xương bộc lộ trở nên dày đặc, bỏng và hóa ngà thường bị xẻ hoặc vạch lộn xộn trên bề mặt của khớp dưới diện. Chụp X quang thấy có vẻ giống như những đường nét cứng. Sự dị sản sụn sợi có thể sảy ra ở bất cứ chỗ tủy nào bộc lộ. Sự tái tạo mẫu xương đánh dấu có thể thay đổi hình dạng của bề mặt khớp, đặc biệt rõ dàng ở các bề mặt chịu sức nặng.

Các “nang” X quang có thể tạo thành ở xương dưới sụn. Đó là những miền không có xương nhưng chứa đầy tuỷ béo và mô sợi thoái hoá.

Gai xương là những chỗ mọc thừa từ bờ khớp tạo ra do tăng sinh sụn tiếp theo sự calci hóa trong sụn. Nó có thể tăng trưởng ở bờ khớp và lan khắp bề mặt khớp nối. Thỉnh thoảng chỗ thừa xương gãy ra như những vật thể rụng.

2.3. Màng hoạt dịch

Thường có một phản ứng viêm nhẹ màng hoạt dịch với sự kích ứng của nhiều mảnh nhỏ của sụn hoặc xương bị hót ra từ bề mặt của khớp, thường thường nang hoạt dịch dày lên và co lại. Có đôi khi lượng dịch thể hoạt dịch tăng lên (tràn ngập).

3. Thoái hoá khớp thứ phát

Có thể nhấn mạnh do số lượng các nguyên nhân liên quan đến thể thao gây ra vết thương trự ctiếp cho sụn khớp hoặc gãy xương có biến dạng lộn xộn và rơi rụng. Do đó nhận biết sớm các biến đổi có tính chất thoái hóa đó sau các tổn thương thể thao nhằm làm giảm nhẹ sự tiến triển dẫn tới tàn tật vĩnh viễn là điều cực kỳ quan trọng.

4. Kết luận

Tìm ra những phương sách khả dĩ để thúc đẩy sự hàn gắn sụn khớp sẽ còn tiếp tục chế ngự hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản trong các thập kỷ tới. Cho đến khi chúng ta có được giải pháp chắc chắn cho vấn đề này, cần nhấn mạnh rằng phòng ngừa vẫn là vấn đề chính yếu trong chiến lược giảm nhẹ tác hại của chấn thương cấp tính và vết thương do qua sức trong thể thao.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết