Bệnh nhược cơ

(ĐTĐ) – Nhược cơ (myasthenia gravis) là một bệnh lý thần kinh – cơ gây ra do xung động thần kinh từ dây thần kinh đến cơ vân không dẫn truyền được làm cho cơ không vận động được. Bệnh hay gặp hơn ở phụ nữ dưới 40 và trên 70 tuổi, và ở nam giới trên 50 tuổi.  

 

Dấu hiệu và triệu chứng  

Nhược cơ có thể xảy ra ở bất kỳ cơ vận động tự ý nào của cơ thể, hay gặp nhất là các cơ ở mặt, mắt, cánh tay và chân, và các cơ tham gia thực hiện các động tác nhai, nuốt và nói. Các dấu hiệu và triệu chứng gồm:

  • Yếu cơ ở mặt, có thể gây sụp mi
  • Nhìn đôi
  • Khó thở, khó nói, khó nhai hoặc nuốt.
  • Yếu cơ ở tay hoặc chân
  • Nhanh mỏi khi phải lặp lại các động tác.

Nguyên nhân   

Đây là 1 bệnh tự miễn. Bệnh gây ra bởi các kháng thể do cơ thể người bệnh tự tạo ra và những kháng thể này tiêu hủy hay gây hư hại những nơi tiếp nhận chất acethylcholine, là chất dẫn truyền thần kinh. Chất Acethylcholine được tổng hợp ở phần cuối của tế bào thần kinh vận động, đây cũng là nơi tiếp nối giữa thần kinh và cơ. Chất Acetylcholine có nhiệm vụ kích thích sự co cơ. Do đó, nếu cơ thể thiếu chất Acethylcholine thì các cơ sẽ không co bóp được gây ra tình trạng yếu cơ và mệt mỏi cho cơ thể của người bệnh.

Cơ chế gây ra phản ứng tự miễn và từ đó gây ra bệnh chưa được hiểu rõ, những nghiên cứu cho thấy có liên quan đến sự phát triển bất thường của tuyến ức (Thymus). Trong 65% trường hợp bất thường này là do tuyến ức phì đại, 15% là do u tuyến ức. Đây là tuyến nhỏ nằm trong lồng ngực, phần trung thất trước trên. Tuyến có nhiệm vụ trong hệ thống miễn dịch bằng cách điều hòa các tế bào miễn dịch như T-lymphocytes tạo ra các kháng thể .v.v …  

Bệnh tiến triển qua các giai đoạn sau

– Giai đoạn 1: Chỉ một nhóm cơ bị xâm phạm, thường là các cơ vận động ở mắt.

– Giai đoạn 2A: Toàn bộ các cơ bị xâm phạm nhưng chưa có xâm phạm hô hấp hoặc hầu họng.

– Giai đoạn 2B: Toàn bộ các cơ bị xâm phạm kèm theo triệu chứng hầu họng.

– Giai đoạn 3: Toàn bộ các cơ bị xâm phạm kèm theo rối loạn hầu họng và hô hấp.

Có thể xác định bệnh nhược cơ bằng nghiệm pháp zoly dương tính, (cho bệnh nhân tự nhắm mở mắt 15 lần rồi mở mắt nhìn; bệnh nhân nhược cơ sẽ không mở được, mi mắt sa xuống) hoặc prostigmin dương tính (tiêm 1 ống prostigmin, sau 15 phút, người bệnh nhược cơ sẽ có thể mở to mắt trở lại và không mỏi mệt nữa).

Khám xét và chẩn đoán  

Dấu hiệu chính để nghĩ tới bệnh nhược cơ là tình trạng yếu cơ được cải thiện khi nghỉ ngơi. Các xét nghiệm xác nhận chẩn đoán có thể gồm:

  • Khám thần kinh kiểm tra phản xạ, cơ lực, trương lực cơ, cảm giác xúc giác, thị lực, dáng đi, tư thế, phối hợp động tác, thăng bằng và các chức năng tâm thần.
  • Xét nghiệm máu tìm những kháng thể bất thường phá huỷ các vị trí thụ thể ở cơ tiếp nhận xung động thần kinh.
  • Test edrophonium. Edrophonium(Tensilon) có tác dụng ức chế enzym giáng hóa acetylcholin. Tiêm chất này cho bệnh nhân bị bệnh nhược cơ có thể làm cho cơ lực được cải thiện rõ rệt trong thời gian ngắn. .
  • Xét nghiệm độ dẫn truyền thần kinh và điện cơ đồ nhằm kiểm tra lực co cơ và ghi lại mô hình hoạt động điện của cơ khi nghỉ ngơi và khi co cơ nhẹ.

Điều trị  

Hiện chưa có biện pháp nào chữa khỏi bệnh nhược cơ, nhưng những cách điều trị sau có thể làm giảm triệu chứng bệnh

  • Điều trị nội khoa: Các thuốc ức chế men cholinesterase, như pyridostigmin (Mestinon) và neostigmine (Prostigmin) làm tăng quá trình truyền thông tin giữa thần kinh và cơ và có tác dụng điều trị nguyên nhân, song không cải thiện được khả năng co cơ và cơ lực. Ngoài ra còn có thể sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch như corticosteroid hoặc các thuốc điều biến miễn dịch như azathioprin (Imuran), mycophenolat mofetil (CellCept), cyclophosphamid (Cytoxan) hoặc cyclosporin (Sandimmune, Neoral).
  • Điều trị ngoại khoa. Ý kiến chung cho rằng cắt bỏ tuyến ức sẽ làm giảm bệnh ở đa số bệnh nhân. Phẫu thuật thường được khuyến nghị cho bệnh nhân dưới 60 tuổi. Tuy nhiên hiệu quả của cách điều trị này còn đang bị tranh cãi.
  • Lọc huyết tương nhằm loại bỏ các kháng thể. Đây có thể là biện pháp điều trị cấp cứu trong giai đoạn bệnh nặng đe dọa tính mạng.
  • Tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch để đưa vào cơ thể các kháng thể bình thường giúp biến đổi đáp ứng miễn dịch. Liệu pháp này có ít nguy cơ bị tác dụng phụ hơn so với lọc huyết tương và thuốc ức chế miễn dịch, song phải mất từ một đến hai tuần mới có tác dụng và hiệu quả thường chỉ kéo dài vài tuần đến vài tháng.

 

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết