Nang Tarlov

Nang Tarlov được đặt tên theo nhà thần kinh học Isadore Tarlov, người đầu tiên mô tả về chúng năm 1938, là nang rễ thần kinh chứa đầy dịch não tủy được tìm thấy chủ yếu ở vùng ngang mức xương cùng cụt. Những nang này thường xuất hiện dọc theo rễ thần kinh sau. Nang có thể có van hoặc không có van. Đặc điểm chính giúp phân biệt nang Tarlov với các tổn thương cột sống khác là sự hiện diện của các sợi rễ thần kinh cột sống trong thành nang hoặc trong chính khoang nang.

Do gần với vùng khung chậu, bệnh nhân có thể bị chẩn đoán nhầm với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, viêm màng cứng và ở phụ nữ là các bệnh lý phụ khoa. Chẩn đoán chính xác có thể khó hơn nếu bệnh nhân có một bệnh khác ảnh hưởng đến cùng một khu vực.

Tỷ lệ mắc và dịch tễ

Các nang Tarlov nhỏ, không có triệu chứng gặp trong khoảng 5-9% dân số nói chung. Tuy nhiên, các nang lớn gây ra các triệu chứng là tương đối hiếm. Nang Tarlov lần đầu tiên được xác định vào năm 1938, tuy nhiên vẫn còn rất ít kiến ​​thức khoa học về chúng.

Trong một cuộc khảo sát gần đây về nang Tarlov, ước tính 86,6% số người được khảo sát là nữ và 13,4% là nam. Phần lớn (80,4%) số người điều tra có độ tuổi từ 31 đến 60.

Ước tính 33% số người được khảo sát có một nang ở các bộ phận khác trong cơ thể, phổ biến nhất là bụng hoặc bàn tay và cổ tay.

Ước tính 3% số người được khảo sát không có đau; 4,2% có đau rất nhẹ; 7,6% có đau nhẹ; 31,5% có đau vừa; 38,6% có đau nặng; và 15,1% có đau rắt nặng. 1

Nguyên nhân

Mặc dù nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết, nhưng có những giả thuyết về những gì có thể gây ra từ một nang Tarlov không triệu chứng trở nên có triệu chứng. Trong một số trường hợp được ghi nhận, tai nạn hoặc té ngã liên quan đến vùng xương cụt của cột sống đã khiến nang Tarlov không được chẩn đoán trước đó bùng lên.

Triệu chứng

Sự gia tăng áp lực trong hoặc trên các nang có thể làm tăng các triệu chứng và gây tổn thương thần kinh. Ngồi, đứng, đi lại và gập người thường gây đau, và thông thường, vị trí duy nhất mang lại sự giảm nhẹ là nằm nghiêng về một bên. Có nhiều triệu chứng khác nhau ở bệnh nhân và có thể bùng phát và sau đó giảm dần. Một số triệu chứng thường gặp bao gồm:

  • Đau ở vùng dây thần kinh bị ảnh hưởng bởi các nang, đặc biệt là mông
  • Yếu cơ
  • Khó ngồi trong thời gian dài
  • Mất cảm giác trên da
  • Mất phản xạ
  • Thay đổi chức năng ruột, chẳng hạn như táo bón
  • Thay đổi chức năng bàng quang, bao gồm tăng tần số hoặc không tự chủ
  • Thay đổi chức năng tīnh ᶁṳc

Chẩn đoán

Nang Tarlov rất khó chẩn đoán vì kiến ​​thức hạn chế về bệnh này và vì nhiều triệu chứng có thể giống các rối loạn khác. Hầu hết các bác sĩ không xem xét đến khả năng nang Tarlov.

Nang Tarlov thường chỉ được tình cờ phát hiện khi chụp cộng hưởng từ (MRI) ở bệnh nhân bị đau thắt lưng, đau thần kinh tọa hoặc một bệnh lý khác vùng tiểu khung. Các nghiên cứu X quang tiếp theo, đặc biệt chụp cắt lớp vi tính (CT) thường được khuyến cáo.

Nang Tarlov

Nang Tarlov

Nang Tarlov

Hình ảnh nang Tarlov trên 1 bệnh nhân 2

Nếu một bệnh nhân có vấn đề về bàng quang và đi khám bác sĩ tiết niệu, có một số xét nghiệm có thể giúp chẩn đoán nang Tarlov. Các xét nghiệm tiết niệu tiêu chuẩn cho phép nghĩ tới nang Tarlov nếu bệnh nhân có bàng quang thần kinh (rối loạn chức năng). Trong niệu động học, bàng quang chứa đầy nước thông qua một ống thông và các phản ứng được ghi nhận. Nội soi bàng quang bằng ống có camera thông qua niệu đạo. Bàng quang thần kinh cho thấy cơ co quá mức. Một xét nghiệm khả thi thứ ba là siêu âm thận để xem nước tiểu có chảy ngược vào thận hay không.

Điều trị không phẫu thuật

Các phương pháp điều trị không phẫu thuật bao gồm dẫn lưu vùng thắt lưng của dịch não tủy (CSF), chọc hút nang dưới CT-scan và một kỹ thuật mới hơn liên quan đến việc loại bỏ CSF từ bên trong nang và sau đó lấp đầy khoảng trống bằng cách tiêm keo fibrin. Thật không may, không có thủ thuật nào trong số này ngăn ngừa tái phát nang có triệu chứng.

Điều trị vật lý trị liệu được lựa chọn trên những bệnh nhân không có chỉ định can thiệp nhằm giảm đau và phục hồi chức năng.

Phẫu thuật

Phẫu thuật nang Tarlov liên quan đến việc bộc lộ vùng cột sống nơi có nang. Nang được mở cho dịch chảy ra, và sau đó để ngăn chất lỏng quay trở lại, nang được đổ đầy bằng cách tiêm keo fibrin hoặc các chất liệu khác.

Các kỹ thuật phẫu thuật thần kinh cho nang Tarlov có triệu chứng bao gồm phẫu thuật cắt bỏ u xơ đơn giản, cắt bỏ nang và/hoặc cắt bỏ rễ thần kinh và cắt bỏ nang vi phẫu.

Các tác giả của một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những bệnh nhân bị nang Tarlov lớn hơn 1,5cm và bị đau xuyên hoặc rối loạn chức năng ruột / bàng quang được cải thiện nhiều nhất từ ​​phẫu thuật. Lợi ích của phẫu thuật phải luôn được cân nhắc cẩn thận trước những rủi ro của nó.

Kết quả

Rò dịch não tủy sau phẫu thuật là biến chứng phổ biến nhất, nhưng trong một số trường hợp, những rò rỉ này có thể tự lành. Bệnh nhân có thể được khuyên nên nằm trên giường với chân giường được nâng lên và đeo nịt để kiểm soát sưng. Mặc dù thấp, nhưng có nguy cơ phát triển viêm màng não do vi khuẩn. Một số bệnh nhân đã ghi nhận sự giảm đau đáng kể, nhưng kết quả tiêu cực phổ biến nhất là sự thất bại của phẫu thuật để loại bỏ các triệu chứng. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể khiến một triệu chứng hiện tại trở nên tồi tệ hơn hoặc nó có thể gây ra một triệu chứng mới.

Khi tất cả các lựa chọn điều trị đã hết, điều quan trọng là bệnh nhân phải thực hiện bất kỳ thay đổi lối sống cần thiết nào và thực hiện chiến lược kiểm soát cơn đau với bác sĩ của mình. Quản lý đau được giám sát, cũng như các nhóm hỗ trợ, có thể giúp bệnh nhân đối phó và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Ghi chú:

  1. Nguồn: Nhóm hỗ trợ nang Tarlov, khảo sát nang Tarlov
  2. Bệnh nhân nam 86 tuổi, đau thắt lưng hông, được phát hiện nang Tarlov nhưng không có chỉ định can thiệp do tuổi cao, sau đó được Bs Mai Trung Dũng khám và điều trị bằng Vật lý trị liệu (ảnh chụp lại phim MRI của BV Vinmec do bệnh nhân cung cấp)

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Bs Mai Trung Dũng
BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1043 bài viết