Lượng giá đau ở trẻ em

Đánh giá đau ở trẻ em là công việc rất khó khăn do trẻ chưa thể giao tiếp, hợp tác được với thầy thuốc. Khi lượng giá đau ở trẻ em cần trả lời được ít nhất 4 câu hỏi sau:

– Đứa trẻ có đau hay không?

– Đau ở cường độ nào?

– Đau do cơ chế (nguyên nhân) nào?

– Dùng phương pháp nào để giảm đau?

1. Các phương pháp tự lượng giá.

Phần lớn các phương pháp này chỉ có thể dùng ở trẻ em trên 7 tuổi đã có khả năng diễn tả điều mà nó cảm thấy.

* Câu hỏi đơn giản:

– Cháu có đau không?

– Cháu đau ở chỗ nào?

– Đau nhiều hay đau vừa hay không thể chịu được?

Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng nhận được câu trả lời có thể tin cậy, mà có nhiều câu trả lời âm tính giả.

* Thang nhìn (VAS): Là phương pháp tự lượng giá được sử dụng nhiều nhất hiện nay, có thể dùng được cho trẻ trên 5 tuổi. Cường độ đau được tượng trưng bằng một đoạn thẳng dài 100mm, một đầu quy ước là không đau còn đầu kia là đau không thể chịu nổi, có nhiều cách diễn tả tùy theo các từ được lựa chọn đối với 2 cực và kết hợp với màu sắc. Những phương pháp hiển thị suy khác đã được thực hiện với trẻ nhỏ hơn dưới dạng đồ chơi, hàng rào hay thẻ khối.

* Hình dạng vẻ mặt: ( Wong-Baker FACES Pain Rating Scale) Đối với trẻ từ 2 đến 4 tuổi, các tác giả Anh đã đề nghị dùng các thay đổi vẻ mặt thể hiện các mức độ khác nhau về đau. Nhiều loạt hình ảnh về vẻ mặt được đưa ra rất sơ lược, cũng có loạt rất phức tạp. Một ví dụ về loạt nét mặt với 5 mức độ như sau:

Lượng giá đau ở trẻ em

Hình 1.13. Biểu hiện đau trên nét mặt trẻ em

* Sử dụng hình vẽ: Đề nghị đứa trẻ vẽ minh họa những vùng đau của nó trên sơ đồ người được vẽ. Người ta yêu cầu đứa trẻ lập một thang lượng giá đau qua việc chọn các màu sắc khác nhau để thể hiện đau nhẹ, đau vừa, đau nhiều và đau dữ dội. Rồi với sự giúp đỡ của 4 màu này, đứa trẻ sẽ vẽ được chứng đau của nó như thế nào, người ta thường ngạc nhiên về tính chất thông tin mà đứa trẻ mang lại, nó không chỉ giúp chẩn đoán đau mà còn có thể giúp chẩn đoán nguyên nhân đau.

 2. Các phương pháp lượng giá không tự thân.

Các phương pháp này thường dùng cho trẻ nhỏ hay trẻ bị câm, bằng các dấu hiệu trực tiếp của chứng đau được phát hiện khi quan sát và thăm khám trẻ:

– Tư thế giảm đau khi nghỉ ngơi, đứa trẻ thường có xu thế luôn duy trì các tư thế này .

– Tư thế giảm đau khi cử động, với sự cứng cơ lan tỏa nhiều hay ít và với sự né tránh các động tác.

– Các động tác bảo vệ vùng đau có thể giúp xác định được vị trí đau.

– Khi khám có sự đề kháng khi sờ nắn, rồi sự co thắt và cử động thụ động cũng có thể được ghi nhận.

– Cuối cùng là dấu hiệu mất trương lực tâm thần vận động xảy ra khi đau kéo dài: đứa trẻ ít hoạt động, tự thu mình lại, các cử động chậm chạp ngay cả ở những vùng cách xa chỗ đau.

Thang “đau ở trẻ em” được Annie Gauvain thực hiện ở khoa ung thư của Viện Gustave Roussy, gồm 15 điểm lượng giá hành vi thái độ của trẻ như sau:

A. Đau (các dấu hiệu trực tiếp)

– Tư thế giảm đau khi nghỉ ngơi

– Bảo vệ tự phát vùng đau

– Các than phiền thực thể

– Định vị các vùng đau

– Tư thế giảm đau khi vận động

– Các phản ứng khi khám vùng đau

B. Mất trương lực về tâm thần vận động

– Sự chịu đựng

– Tự thu mình lại

– Mất đi sự tế nhị

– Giảm sự chú ý tò mò với bên ngoài

– Cử động chậm chạp

C. Lo lắng

– Tính nóng nảy

– Khí chất xấu, dễ bị kích thích

– Trẻ tự kiểm soát khi người ta làm nó vận động

– Dễ khóc

 Ngoài ra còn có các thang như: thang Amiel Tison cho đau sau mổ từ 0-7 tháng, thang Cheops cho đau ở phòng tỉnh mê, thang lượng giá đối với trẻ tàn tật, thang DEGR đối với đau kéo dài ở trẻ từ 2 đến 6 tuổi.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết