Điều trị đau .com
  • Nơi cung cấp thông tin về Đau và Điều trị đau !
0124 589 8686

(ĐTĐ) - Chứng tăng động giảm chú ý (ADHD) ở trẻ em hay còn gọi là “hội chứng trẻ hiếu động” và “rối loạn hiếu động kém tập trung” là một rối loạn có tính chất tâm lý dễ gặp ở trẻ em. Khởi phát sớm và kéo dài với các biểu hiện như: hoạt động quá mức, khó kiểm soát hành vi, kém khả năng tập trung chú ý gây nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập và trong các mối quan hệ xã hội.
 

ADHD là một rối loạn đã được biết đến từ hơn 100 năm trước đây, đặc trưng bởi sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, thiếu kiềm chế với giảm chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong mọi công việc. Rối loạn này có tỷ lệ mắc khá cao, trẻ không tập trung và hiếu động thường được chẩn đoán phát hiện ở lứa tuổi 4-6 tuổi, ở lứa tuổi học sinh tiểu học là 3-5% , hay gặp nhất ở 8 -11 tuổi và tỷ lệ trẻ trai so với trẻ gái là 3/1. Các triệu chứng của ADHD thường giảm nhiều và một số mất đi khi đến tuổi trưởng thành. Ở tuổi 20, tỉ lệ mắc còn chừng 1% và ở tuổi trung niên là 0,5%.

Trẻ mắc chứng tăng động thường khó kiểm soát hành vi. (Ảnh có tính minh họa)

Những dấu hiệu nhận biết trẻ mắc ADHD

Dấu hiệu nhận thấy trẻ mắc ADHD: trẻ hoạt động liên tục, múa tay chân, chạy nhảy leo trèo, không ngồi yên một chỗ, thường xuyên chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác thiếu tổ chức và kém điều tiết. Những trẻ này thường dại dột, xung động, dễ bị tai nạn và bản thân chúng thường vi phạm kỷ luật do không tôn trọng các quy tắc (vì thiếu suy nghĩ hơn là cố tình chống đối). Trẻ khó khăn trong việc duy trì khả năng chú ý trong học tập, làm việc, sinh hoạt và vui chơi, dễ dàng bị phân tâm bởi các kích thích xung quanh, hay để quên và làm thất lạc đồ đạc... Trẻ cũng thường gặp các tật chứng về nhận thức và các trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ đi kèm. Những rối loạn hành vi khác đi kèm theo như: rối loạn giấc ngủ (thường là trẻ rất khó đi vào giấc ngủ), rối loạn lo âu... Các rối loạn này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào từng trẻ và môi trường xung quanh tác động đến trẻ.

Những trẻ mắc chứng ADHD lại gặp phải những rối nhiễu về tâm lý như:

Thiếu tự tin: trẻ thiếu tự tin trong giao tiếp với bạn bè và thầy cô, vì vậy, trẻ khó thích nghi với môi trường sống học đường.

Trẻ dễ gặp phải những rối loạn thần kinh: lo lắng và nóng nảy kèm theo nhịp tim nhanh, thở nhanh, chóng mặt, rối loạn cảm xúc... hay khiêu khích, gây sự, thái độ thù ghét, hung tợn...

Gặp rắc rối trong học tập: do độ tập trung ở trẻ kém nên kết quả học tập ở trẻ ADHD kém và thường tiến bộ chậm. Trẻ khó khăn về đọc, về viết. 20% trẻ mắc chứng ADHD cần phải có chế độ giáo dục đặc biệt.

Nguyên nhân của ADHD là gì?

Cho đến nay người ta vẫn chưa xác định rõ ràng được nguyên nhân của ADHD, nhưng có thể đề cập những yếu tố chính như:

Do người mẹ tiếp xúc với một số độc chất trong thời kỳ mang thai: như thuốc lá, rượu, ma túy, vì những chất này làm giảm sản xuất dopamine ở trẻ em hoặc các độc chất trong môi trường như dioxine, hydrocarbure benzen... cũng làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra bị mắc ADHD.

Tai biến lúc sinh: như sinh non tháng, thiếu ôxy lúc sinh (bị ngạt) làm ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của trẻ.

Do di truyền: đa số trẻ em mắc ADHD thì trong gia đình của bé có ít nhất một thành viên mắc chứng này. Hơn nữa, 1/3 số đàn ông bị chứng ADHD khi còn nhỏ thì con họ sau này cũng mắc phải chứng này.

Nguyên nhân tâm lý: lo lắng, rối loạn tâm thần, bị cưỡng bức, lạm dụng tình dục, gặp khó khăn trong học tập, lục đục trong gia đình.

Các nguyên nhân khác: như chấn thương đầu, nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương hoặc có rối loạn giấc ngủ (ngủ nhiều quá hoặc khó ngủ)…

Các biện pháp trị liệu ADHD cơ bản

Việc trị liệu cho trẻ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà chuyên môn với gia đình và nhà trường. Cần áp dụng liệu pháp tâm lý kết hợp với giáo dục phù hợp.

Liệu pháp hành vi nhận thức: giải thích cho trẻ hiểu việc cần làm, chia nhỏ nhiệm vụ thành các bước và hướng dẫn trẻ cách làm, khen thưởng khi trẻ tiến bộ để củng cố hành vi tốt. Huấn luyện nếp sống và các kỹ năng xã hội.

Các bài tập vận động: nhằm giúp trẻ lập kế hoạch vận động phù hợp, làm chủ vận động và trương lực cơ, một số bài tập tăng sự tập trung chú ý...

Chơi trị liệu phù hợp: giúp trẻ giải tỏa căng thẳng, luyện tính kiên trì, học cách tổ chức và ứng xử với bạn trong khi chơi... Không nên chơi những trò chơi dễ kích thích tinh thần hay ngoài tầm kiểm soát của trẻ.

Xoa bóp (massage): đặc biệt có lợi giúp thư giãn đối với những thanh thiếu niên bị chứng ADHD. Trẻ được điều trị bằng phương pháp massage thư giãn giúp trẻ trầm tĩnh hơn, ngủ ngon hơn, tránh được những cơn ác mộng khi ngủ, cải thiện được hành vi, biết lắng nghe, vâng lời cha mẹ hơn.

Lời khuyên của thầy thuốc

Trẻ mắc ADHD cần được quan tâm đúng mức và can thiệp sớm. Nếu để muộn (đến tuổi vị thành niên), vấn đề trở nên rất khó khăn do trẻ học tập kém, rối loạn các mối quan hệ với bạn bè và người xung quanh, kém tự tin, mặc cảm hoặc nhiễm các thói hư tật xấu, có hành vi chống đối xã hội... Trên 30% trẻ vẫn có các triệu chứng của ADHD đến tuổi trưởng thành, có nhiều khó khăn về nghề nghiệp, giảm hiệu quả lao động, dễ bị kích thích và gây hấn với người xung quanh, tính tình ngang bướng, cục cằn, lập dị... Do vậy, việc phát hiện, điều trị và can thiệp sớm rối loạn ADHD là rất cần thiết.

Vì nguyên nhân gây ra ADHD vẫn chưa rõ ràng nên rất khó có thể phòng ngừa được. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp nên phòng tránh không để trẻ bị chấn thương vào đầu hay bị nhiễm khuẩn thần kinh trung ương và không cho trẻ tiếp xúc với kim loại nặng (chì). Mặt khác, người mẹ khi mang thai không được hút thuốc, uống rượu hay dùng chất ma túy, càng tránh tiếp xúc với những chất độc trong môi trường càng tốt.

Nguồn Suckhoedoisong.vn 

Bạn đánh giá: 0 / 5

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Một số vấn đề cơ bản về bệnh loãng xương

11-12-2017 Hits:262 Loãng xương DrBlack

Loãng xương là một chuyên ngành còn rất mới, ban đầu được cho là một bệnh thứ yếu. Song khi nghiên cứu sâu về Loãng xương cho thấy tỷ lệ lưu hành, tỷ lệ biến chứng gãy xương và tỷ lệ tử vong do biến chứng gãy xương ngày một tăng, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh. Do vậy ngày nay Loãng xương đã trở thành một chuyên ngành nghiên cứu sâu về cấu trúc, chức năng và bệnh lý nguyên phát của xương.  Các khía cạnh được đề cập đến trong bài viết này bao gồm: 1. Chẩn đoán...

Read more

Viết bình luận