Đặt ống ghép nội mạch – một hướng đi mới trong điều trị phình động mạch chủ ngực – BV108


Đặt ống ghép nội mạch – một hướng đi mới trong điều trị phình động mạch chủ ngực

    Ngày nay, phình động mạch chủ (ĐMC) không còn là bệnh lý hiếm gặp, số bệnh nhân mắc phình động mạch chủ nhập viện ngày càng tăng. Đây là bệnh lý giãn động mạch chủ vĩnh viễn và không phục hồi, khi đường kính ngang đo được lớn hơn hoặc bằng 1,5 lần so với đường kính phần còn lại của động mạch chủ. Phình động mạch chủ ngực chiếm khoảng 2% đến 5% của tất cả phình mạch máu.
     
    Tiến triển của bệnh liên quan đến một số yếu tố nguy cơ thường gặp bao gồm: xơ vữa động mạch, hút thuốc lá, nam giới và tăng huyết áp. Phình động mạch chủ ngực có tỉ lệ phát triển trung bình 0,42cm – 0,56cm/năm. Khi đường kính động mạch chủ ngực càng lớn thì nguy cơ gây vỡ phình càng tăng dẫn đến nguy cơ tử vong càng cao. Đối với những phình có đường kính lớn hơn 6cm thì tỉ lệ tử vong, vỡ hoặc bóc tách động mạch chủ khoảng 15,6% trên năm và khi vỡ phình động mạch chủ thì tỉ lệ tử vong này lên đến 97% đến 100%.

    Phình động mạch chủ ngực được chia thành các dạng sau:
    – Phình động mạch chủ ngực đoạn động mạch chủ ngực.
    – Phình động mạch chủ ngực–bụng liên quan cả 2 động mạch chủ ngực xuống và động mạch chủ bụng.

    Hình một số dạng phình động mạch chủ

    – ĐMC ngực có thể được phân chia thành 2 loại theo hình dạng của nó:
    + Dạng túi: mặt bên của động mạch chủ phồng lên và không đối xứng. Thường đây là giả phình động mạch chủ mà nguyên nhân do chấn thương hay do loét xuyên thấu động mạch chủ.
    + Dạng hình thoi: đây là phình thật vì tổn thương cả 3 lớp của thành động mạch chủ. Dãn to bất thường một đoạn dài và liên quan đến toàn bộ chu vi của thành động mạch chủ.

    Hình phân loại phình ĐMC theo hình dạng
    (dạng thoi và dạng túi).

    Dấu hiệu của bệnh:
    Thông thường, phình động mạch chủ ít có triệu chứng hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe định kỳ hay khi chụp X-quang ngực thường quy. Ngoài ra, một số bệnh nhân có triệu chứng không điển hình như:
    Đau: Thường đau mơ hồ, có thể đau ở cổ và hàm dưới, hoặc đau giữa hai xương bả vai, hay đau lưng, đau vai trái. Khi có phình tách động mạch chủ thì xuất hiện đau đột ngột như xé vùng trước ngực hoặc sau lưng.
    Dấu hiệu chèn ép: Khi phình lớn có thể gây chèn ép các cấu trúc xung quanh hay tạng lân cận gây khàn tiếng (chèn ép thần kinh thanh quản) hoặc khó thở, khó nuốt do chèn vào khí quản, thực quản, hoặc phù do chèn ép vào tĩnh mạch.
    Vỡ phình động mạch chủ:
    Đây là biến chứng nặng và nguy hiểm, bệnh nhân thường tử vong trước khi nhập viện. Một số trường hợp may mắn vỡ chưa hoàn toàn cần phẫu thuật cấp cứu tối khẩn cấp. Khi chưa sốc và trụy tim mạch thì các triệu chứng thường gặp là:
    + Đau ở ngực hoặc bụng, lưng. Tính chất đau thường đột ngột và đau nhiều.
    + Mạch nhanh và huyết áp không đo được hoặc rất thấp. Da niêm mạch nhợt do mất máu.
    + Làm chẩn đoán hình ảnh sẽ thấy dịch trong màng phổi hay sau phúc mạc.
    Với trường hợp này, cần khẩn trương tiến hành phẫu thuật. Tuy nhiên, tiên lượng cũng rất khó khăn.

    Điều trị phình động mạch chủ ngực và những tiến bộ mới:
    Khi túi phình có kích thước ngang lớn hơn 50mm, hoặc mỗi năm đường kính túi phình tăng hơn 5mm thì cần được điều trị triệt để. Đối với phình hình túi thì chỉ cần đường kính lớn hơn 30mm đã cần can thiệp.
    Hiện nay, hầu hết các trung tâm tim mạch trong nước đều điều trị bệnh lý này bằng phẫu thuật. Phẫu thuật mổ mở, cắt bỏ đoạn phình và thay bằng đoạn động mạch nhân tạo dưới sự hỗ trợ của máy tuần hoàn ngoài cơ thể. Đây là phẫu thuật khó, đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm của các thầy thuốc. Điều trị phẫu thuật có tỉ lệ tử vong chu phẫu 5% đến 35% và tỉ lệ biến chứng vẫn còn cao, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi và có các tổn thương khác phối hợp. Chăm sóc sau mổ cũng nặng nề và khá phức tạp.

    Tuy nhiên, cùng với tiến bộ của y học, đặc biệt tiến bộ của ngành tim mạch can thiệp, bệnh nhân có thể không cần phải mổ. Một phương pháp điều trị đặc biệt sẽ thay thế phương pháp mổ truyền thống, gọi là đặt ống ghép nội mạch qua da. Đây là can thiệp ít xâm lấn với kết quả ban đầu tốt.

    Hình phình động mạch chủ ngực (trước can thiệp)

    Hình sau khi can thiệp đặt ống ghép nội mạch (Stent graft động mạch chủ ngực)

    Đặt ống ghép nội mạch là phương pháp điều trị thay thế an toàn và hiệu quả so với phương pháp phẫu thuật vì nó không sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể. Để đặt ống ghép nội mạch an toàn cần phải đánh giá kích thước của động mạch đầu xa làm đường dẫn có đủ hay không, đường đi của động mạch chủ có bị quặn xoắn hay bị gập góc, và quan trọng nhất là hình thái học của túi phình có thích hợp hay không. Các bác sĩ can thiệp sẽ luồn ống ghép qua da vào vùng mạch bị phình và ống ghép này sẽ thay thế đoạn mạch bệnh lý. Bệnh nhân sẽ hồi phục nhanh chóng, không cần nằm viện lâu, theo dõi chăm sóc sau can thiệp cũng nhẹ nhàng. Tuy nhiên, chi phí cho can thiệp này còn cao so với thu nhập người dân của nước ta. Hiện nay đã có nhiều trung tâm tim mạch của nước ta áp dụng phương pháp này như Bệnh viện TƯQĐ 108, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Chợ Rẫy và đạt được kết quả rất khả quan. Mở ra một hướng đi mới cho những bệnh nhân có bệnh lý phình động mạch chủ ngực.

    BS. Ngô Tuấn Anh
    Khoa Phẫu thuật Tim mạch – Bệnh viện TƯQĐ 108

    Nguồn Benhvien108.vn

    Có thể bạn quan tâm

    Bài viết của: Bs Mai Trung Dũng
    BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
    1043 bài viết