Điều trị đau .com
084 589 8686

1. Định nghĩa

Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.

Nghiên cứu y học (hoặc y sinh học) là nghiên cứu cơ bản hoặc ứng dụng được tiến hành để hỗ trợ kiến thức trong lĩnh vực y học. Nghiên cứu y học có thể được chia làm 2 loại chính: đánh giá tính an toàn và hiệu quả của một phương pháp điều trị mới trong các thử nghiệm lâm sàng, và các nghiên cứu góp phần vào sự phát triển của phương pháp điều trị mới.

2. Các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học

Tiến trình nghiên cứu khoa học được tóm lược theo sơ đồ sau:

2.1 Ý tưởng nghiên cứu:

Việc đầu tiên muốn tiến hành một nghiên cứu cần phải có ý tưởng. Ý tưởng nghiên cứu thường được hình thành trong các tình huống sau:

- Trong giải quyết công việc hàng ngày thường có nhiều ý tưởng phát sinh để cải tiến công việc mình đang làm. Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho thầy thuốc các câu hỏi hay các vấn đề cần nghiên cứu. Ví dụ: Khi mổ bệnh nhân mắc bịnh trĩ theo phương pháp A thì hay bị tái phát, tại sao tôi không cải tiến phương pháp A này hoặc áp dụng một phương pháp B khác ít bị tái phát hơn? hoặc trong điều trị nội khoa, tại sao tôi không kết hợp thêm một loại thuốc hoặc một phương pháp hỗ trợ với loại thuốc đang dùng để tăng thêm hiệu quả điều trị cho bệnh nhân…

- Trong quá trình tham khảo sách báo. Việc đọc sách báo thường xuyên giúp nẩy sinh các ý tưởng mới hoặc những ý tưởng bổ sung vào những kiến thức đã có trước đây.

- Trong các cuộc tranh luận hoặc các câu hỏi được đặt ra từ các đồng nghiệp trong các buổi thuyết trình và hội nghị khoa học.

- Cuối cùng, đôi khi ý tưởng nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ của thầy thuốc qua tình cờ quan sát các hiện tượng tự nhiên hoặc qua các hoạt động hàng ngày trong bệnh viện.

2.2. Tổng quan tài liệu:

Sau khi đã có ý tưởng nghiên cứu, cần tiến hành tìm kiếm các thông tin về vấn đề này qua các sách báo khoa học, các luận án tại các trường đại học và đặc biệt truy cứu vào các thư viện khổng lồ trên internet. Ví dụ: khi vào trang web của thư viện Y khoa quốc gia Hoa kỳ (//www.ncbi.nlm.nih.gov/sites/entrez) gồm hơn 18 triệu bài báo khoa học từ thập niên 1950 đến nay, dữ liệu EMBASE gồm hơn 7.000 tạp chí y sinh học với hơn 20 triệu bài báo, thư viện Cochrane… Tuy nhiên không phải lúc nào ta cũng tìm được các thông tin liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu mà có thể tìm thấy ở một bệnh lý tương tự. Ví dụ: nhiều năm trước đây chưa có các nghiên cứu về siêu âm dịch ổ bụng trong Sốt xuất huyết nhưng đã có nhiều nghiên cứu về siêu âm dịch ổ bụng trong chấn thương bụng kín.  

2.3. Giả thuyết nghiên cứu:

Sau khi đã tham khảo tài liệu, đặc biệt là các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trong phòng thí nghiệm hoặc thực nghiệm trên súc vật hoặc đã được thực nghiệm trên người nhưng ở một bệnh lý tương tự với bệnh lý chúng ta sắp nghiên cứu để hình thành giả thuyết nghiên cứu. Ví dụ: đã có nhiều nghiên cứu dùng dung dịch muối ưu trương để điều trị chống sốc giảm thể tích do mất máu, do bỏng hoặc hồi sức trong mổ tim hở ở người, hoặc kết quả thực nghiệm trên súc vật cho thấy dung dịch muối ưu trương làm tăng nhanh thể tích trong lòng mạch, vì vậy chúng ta đặt ra giả thuyết là dùng dung dịch muối ưu trương trong chống sốc Sốt xuất huyết cũng sẽ làm tăng nhanh thể tích trong lòng mạch, giảm bớt lượng dịch được truyền vào, có thể làm giảm nguy cơ quá tải? hoặc một ví dụ khác: Các chủng vi khuẩn Thương hàn kháng thuốc thường nhạy cảm với các kháng sinh thuộc nhóm fluoroquinolone như vậy Gatifloxacin là một loại kháng sinh mới thuộc nhóm fluoroquinolone cũng có khả năng điều trị bệnh Thương hàn kháng thuốc.

2.4. Thiết kế nghiên cứu:

Mục đích là để chứng minh giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, do vậy một thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sẽ có giá trị hơn là một thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm (quasi-experiment) hoặc nghiên cứu mô tả. Trong thực hành lâm sàng, chỉ có một thiết kế duy nhất được gọi là thực nghiệm đó là thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled clinical trials) và có giá trị nhất để chứng minh giả thuyết đặt ra hoặc nói cách khác kết luận của nghiên cứu mới có thể tin tưởng được. Các thiết kế khác như nghiên cứu đoàn hệ (cohort), nghiên cứu bệnh chứng (case-control), nghiên cứu cắt ngang, báo cáo ca bệnh… đều là các thiết kế không thực nghiệm nên kết luận của các nghiên cứu này chỉ có giá trị nhất định.

2.5. Thu thập và phân tích số liệu:

Muốn thu thập các biến nào và phân tích ra sao, trước hết chúng ta cần phải biết một số kiến thức cơ bản về thống kê và một phần mềm thống kê thông dụng như SPSS, Strata, phần mềm R… Tốt nhất nên nhờ một nhà khoa học rành về thống kê xem lại khâu thiết kế nghiên cứu, cách đo lường và thu thập các biến. Nói chung cần phải xác định các biến kết cục (outcome) là tiêu chí hoặc là mục đích chính của nghiên cứu, sau đó xác định các biến tiên đoán (predictors) hoặc trong thống kê gọi là biến độc lập. Phân tích thống kê là tìm sự liên quan giữa biến “đầu vào” (biến tiên đoán) và biến “đầu ra” (biến kết cục). Vì vậy các  

biến này phải được định nghĩa hoặc đo lường một cách rõ ràng và thu thập một cách chuẩn xác thì kết quả phân tích mới tin cậy được.

2.6. Diễn dịch kết quả:

Diễn dịch kết quả cần phải cẩn trọng vì phân tích thống kê chỉ cho ta biết về mối liên quan của hai hiện tượng hoặc hai sự việc mà chưa phải là mối liên hệ nhân-quả. Ví dụ: chúng ta chỉ kết luận là có mối liên hệ giữa mẹ dùng thuốc động kinh và dị tật ở con hoặc kết luận mẹ dùng thuốc động kinh làm tăng nguy cơ gây dị tật ở con chứ chưa phải thuốc động kinh là nguyên nhân của dị tật.

2.7. So sánh với các nghiên cứu trước đây:

Mặc dù nghiên cứu một vấn đề giống nhau hoặc tương tự nhưng điều kiện nghiên cứu (không gian, thời gian) và đặt biệt mẫu nghiên cứu khác nhau dẫn đến kết quả của các nghiên cứu không thuần nhất, đôi khi còn cho kết quả trái ngược nhau, vì vậy chúng ta cần phải so sánh với các nghiên cứu, các báo cáo trước đây về vấn đề này để tìm sự tương đồng và khác biệt.

2.8. Kết luận của công trình nghiên cứu:

Là câu trả lời cuối cùng của giả thuyết được đề ra, tuy nhiên nhà nghiên cứu không thể chứng minh trực tiếp mà gián tiếp qua giả thuyết không, hơn nữa chỉ được thực hiện trên một mẫu nghiên cứu do vậy sự suy diễn kết quả cho cả một quần thể là chưa đáng tin cậy. Tuy vậy nếu một công trình nghiên cứu được tiến hành bài bản, trung thực và khoa học thì cũng đã đóng góp một phần hiểu biết vào kho tàng tri thức của nhân loại.

Tài liệu tham khảo:

1. Holmes LB, Harvey EA, Coull BA, Huntington KB, Khoshbin S, Hayes AM, Ryan LM. The teratogenicity of anticonvulsant drugs. N Engl J Med. 2001 12; 344:1132-8.

2. Angela Laflen. 2001. Understanding the Sections of Your Report, website: //owl.english.purdue.edu/

3. Walonick D.S. 1993. The research process, website: //www.statpac.com/ research-papers/research-process.htm

Nguồn Bvag.com.vn  
Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

 

Bệnh xã hội

Hệ cơ xương khớp là bộ khung nâng đỡ toàn bộ cơ thể và chi phối sự vận động. Trong đó Cột sống bao bọc và bảo vệ tủy sống, hệ thần kinh tự chủ và chỉ huy mọi chức năng chức phận hoạt động, chuyển hoá, tuần hoàn, bài tiết .Cột sống là trung tâm của hệ xương, làm cột trụ, quyết định sự sống và sự vận động, của mọi động vật có xương sống. Bệnh cơ xương khớp, cột sống là căn bệnh gây đau dai dẳng, tuy ít nguy hiểm nhưng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lao động và sinh hoạt, làm giảm chất lượng cuộc sống.

 

ĐAU CƠ XƯƠNG KHỚP, CỘT SỐNG HÀNH HẠ BẠN MỖI NGÀY?

“Vậy nguyên nhân là do đâu?"

Do tuổi tác: khi tuổi mỗi ngày một cao, quá trình thoái hóa cột sống và xương khớp sẽ tăng lên

Do làm việc nặng: làm cho xương khớp, cột sống liên tục phải chịu tải trọng cao và sớm bị bệnh

Do ngồi nhiều: ít vận động làm cho cơ bị mỏi, xương khớp không được nuôi dưỡng đầy đủ

Do chấn thương: gây tổn thương dây chằng, đĩa đệm và xương khớp

Vận động sai tư thế: làm áp lực nội khớp tăng lên đột ngột gây trượt đĩa đệm

Bệnh tự miễn: gây viêm dính đốt sống và các khớp 

Vi khuẩn: như vi khuẩn lao gây viêm đốt sống, xương khớp

Do thói quen không tốt, gây bất lợi kéo dài cho xương khớp liên quan đến nghề nghiệp

 

BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP CỘT SỐNG ẢNH HƯỞNG THẾ NÀO ĐẾN CUỘC SỐNG CỦA BẠN ?

Phòng khám Điều Trị Đau 589 Hoàng Hoa Thám cho bạn biết những ảnh hưởng đó

Cơ xương khớp, Cột sống hoạt động như một cây trụ cột giữ cho cơ thể con người có thể đứng thẳng. Cột sống còn là một chuỗi khớp xương xếp lại thành chồng nối liền đầu, mình, chân, tay, giúp cho đầu, thân và các chi vận động đa dạng, linh hoạt và thoải mái, nhờ vậy con người có thể vận động, lao động, sinh hoạt và tham gia mọi hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí.

Giảm lao động trí óc

Bạn không thể làm việc với máy tính, không thể đọc sách và nghiên cứu, không thể sáng tạo

Giảm lao động thể lực

Bạn không thể mang vác, không thể lái xe, không thể làm các việc nặng nhọc khác

Mắc thêm bệnh dạ dày do thuốc giảm đau

Hầu hết các thuốc giảm đau chống viêm đều gây hại cho dạ dày, hành tá tràng.

Giảm chất lượng cuộc sống

Đau làm bạn không thể vui chơi, giải trí, thể thao, giảm khả năng t.ì.n.h d.ụ.c

 

4 ƯU THẾ CỦA LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC SO VỚI LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC


Liệu pháp
không dùng thuốc

Độ chính xác: Liệu pháp không dùng thuốc do chỉ tác động cục bộ vào cơ quan, vị trí đau nên có độ chính xác cao, không ảnh hưởng toàn thân

Hiệu quả: Tác dụng giảm đau và giảm viêm mạnh xuất hiện ngay sau điều trị. Phối hợp nhiều phương pháp giúp điều trị cả căn nguyên và triệu chứng của bệnh.

Độ an toàn: Độ an toàn cao, không ảnh hưởng toàn thân, không có tai biến và biến chứng trong và sau điều trị.

Nguy cơ tái phát: Kết quả điều trị được duy trì bền vững, khả năng khỏi đau trong thời gian kéo dài do khối thoát vị đã bị thu nhỏ hoặc mất.

Liệu pháp dùng thuốc

Độ chính xác: Thuốc dùng dù uống, tiêm hay phong bế đều gây tác dụng toàn thân, nên có thể ảnh hương đên cơ quan khác

Hiệu quả: Tác dụng giảm đau và giảm viêm mạnh xuất hiện ngay sau điều trị. Nhưng không có thuốc hay phương pháp nào điều trị triệt để căn nguyên gây bệnh.

Độ an toàn: An toàn không cao, có nhiều nguy cơ tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt là tác hại đối với dạ dày, hành tá tràng.

Nguy cơ tái phát: Kết quả điều trị không bền vững do căn nguyên gây bệnh chưa được giải quyết.

 

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CƠ XƯƠNG KHỚP - CỘT SỐNG

ĐƯỢC PHÒNG KHÁM ĐIỀU TRỊ ĐAU (PK ĐA KHOA 589 HOÀNG HOA THÁM) ÁP DỤNG

Giá cả tại phòng khám

Cột sống

Phòng khám luôn cam kết chất lượng điều trị đặt lên hàng đầu với giá cả dịch vụ theo quy định của Bộ Y tế và UBND Tp Hà Nội.

Thông thường một liệu trình điều trị 10 ngày bao gồm 4-6 kỹ thuật điều trị (kéo giãn, châm cứu, điện xung, siêu âm, chườm thuốc, ...), mỗi ngày hết khoảng 250-300k, nếu đóng trước cả đợt 10 ngày sẽ được giảm ngay 10%.

Ngoài ra hiện tại Phòng khám đang triển khai Chương trình khuyến mại giảm ngay 20% và giảm tới 30% gói 10 lần điều trị cột sống.

NSƯT Anh Thái

Tôi thường xuyên bị đau lưng do thoái hóa cột sống, nhờ điều trị châm cứu, kéo giãn tại PK 589 Hoàng Hoa Thám mà bây giờ không còn đau nữa, cám ơn các bác sĩ và y tá.

Đỗ Ngọc Huyền

Mỗi lần đến phòng khám đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám, mình được phục vụ rất chu đáo và không phải chờ đợi để được khám và kết quả lâu. Mình rất thích cách làm việc đó

Mai Khánh Chi

Mình bị thoát vị đĩa đệm, đã điều trị nhiều nơi không đỡ, bác sĩ bảo có thể mình phải đi mổ, mình rất hoang mang và lo sợ. Nhưng sau khi được các bác sĩ PKĐK 589 điều trị điện châm, kéo giãn, mình đã hết đau không cần phải mổ nữa.

Liesna

Mình là người Indonesia nhưng là khách “ruột” của phòng khám, mỗi khi thấy đau lưng là mình hay qua đó để được điều trị. Nói chung là ok lắm từ thái độ phục vụ tới cách làm việc của đội ngũ nhân viên ở đó

Bài viết mới

Viêm Khớp Thiếu Niên Tự Phát Thể Viêm Khớp Vẩy Nến

15-01-2019 Hits:102 Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Các Bệnh Cơ Xương Khớp Bộ Y tế

Ở người lớn, có từ 5 đến 42% bệnh nhân vẩy nến có biểu hiện tổn thương viêm khớp. Viêm khớp vẩy nến ở trẻ em (Juvenile psoriatic arthritis) chiếm 8-20% các trường hợp viêm khớp ở lứa tuổi này. Tuổi thường gặp 9 – 12 tuổi. Tuổi khởi phát là 4-5 tuổi đối với trẻ gái và 10 tuổi với trẻ trai. Bé gái gặp nhiều hơn bé trai với tỉ lệ 3:2. Biểu hiện ở khớp có thể xuất hiện trước khi có các biểu hiện ở da (19%), hoặc đồng thời (16%) hoặc các biểu hiện ở...

Read more

Các chuyên đề cột sống

Viết bình luận