Điều trị đau .com
084 589 8686

(ĐTĐ-Cách trình bày bài báo cáo ca bệnh và hàng loạt ca bệnh) - Báo cáo ca bệnh (case report) hoặc hàng loạt ca (case series report) nhằm thông tin các ca bệnh hiếm, các ca bệnh có các biểu hiện, diễn tiến hoặc biến chứng khác thường hoặc tường trình các tai biến bất thường do thuốc gây ra cho người bệnh.


Báo cáo ca bệnh ít có giá trị về y học chứng cớ, tuy nhiên trong lịch sử y học đôi khi nhờ các báo cáo này giúp cho nhà khoa học phát hiện một loại bệnh mới hoặc các biến chứng gây ra do thuốc mà các hãng bào chế không lường trước được. Ví dụ điển hình, vào những năm đầu thập niên 60, hàng ngàn phụ nữ Châu Âu sinh ra quái thai, dị tật cụt chi giống như hải cẩu, do uống thuốc an thần Thalidomide trong 3 tháng đầu thai kỳ. Bác sĩ McBride ở Úc là người đầu tiên đã phát hiện ca dị tật cụt chi ở một bệnh viện phụ sản tại Sydney và đã báo cáo trên báo Lancet vào năm 1961. Đến năm 1962 hàng loạt các ca tương tự đã được phát hiện tại Anh và công bố trên báo British Medical Journal [1]

Một phụ nữ 35 tuổi, có thai lần đầu tiên sau 12 tháng kết hôn, uống thuốc an thần Thalidomide 2 tháng trước khi có thai và tiếp tục 3 tuần đầu sau khi có thai. Trẻ sinh ra đủ tháng và chết 24 giờ sau sinh, kết quả giải phẩu tử thi: Trẻ gái cân nặng 3,4 kg vòng đầu 35 cm, vòng ngực 37,5 cm, 2 mắt có tật: thiếu mống mắt bên mắt phải và đục thủy tinh thể mắt trái, hoàn toàn cụt 2 tay, 2 chi dưới kém phát triển nhưng có 4 ngón chân bên phải và 6 ngón chân bên trái…

Nhờ những phát hiện đầu tiên này và thông báo trên báo đã gây sự chú ý trong giới y học và đã xác định Thalidomide là thủ phạm gây ra dị tật cho hàng nghìn trẻ sơ sinh vào những thập niên 60-70.

Thalidomide là thủ phạm gây ra dị tật cho hàng nghìn trẻ sơ sinh

Báo cáo ca bệnh do ít có bằng chứng khoa học nên khó được chấp nhận đăng trên các báo nổi tiếng của y học. Trong những năm gần đây đã có nhiều tờ báo y học chuyên đăng báo cáo ca bệnh, điển hình là báo Journal Medical Case Reports phát hành lần đầu vào tháng 2 năm 2007 và đã xuất bản đều đặn hàng tháng [2]

Tùy theo báo y học, cách trình bày bài viết báo cáo ca bệnh phải theo hướng dẫn về nội dung, hình thức và các tiêu chí do tờ báo qui định. Nói chung, báo cáo ca bệnh thường được trình bày như sau [3] [4].

Hình thức của bài viết báo cáo ca bệnh gồm các phần: Tóm tắt, mở đầu, báo cáo ca bệnh và bàn luận. Báo cáo ca bệnh có thể mô tả một ca hoặc hàng loạt ca bệnh (case serie report). Tổng độ dài bài viết dài khoảng 1500-2500 từ. Tựa bài báo phải ngắn gọn, đầy đủ và xúc tích.

1. Phần tóm tắt. Có khoảng 100-250 từ, phải tóm tắt đủ cả 4 phần chính: mở đầu và mục đích, báo cáo ca bệnh, bàn luận và kết luận. Tuy nhiên hình thức có thể thay đổi tùy theo từng tờ báo y học đòi hỏi.

2. Phần mở đầu. Nêu vấn đề một cách xúc tích và ngắn gọn trong vài câu về tình trạng hiếm và lạ của ca bệnh này để gây ngay sự chú ý cho người đọc. Tham khảo trong y văn và internet (Medline, Embase, Ovid, thư viện Cochrane…), hoặc ngay cả ở bộ máy tìm kiếm Google, các trường hợp tương tự đã được báo cáo trước đây. Nếu ca bệnh mô tả tai biến do dùng thuốc phải dò tìm các dữ liệu về tác dụng phụ của thuốc ở Clin-Alert hoặc các thông tin về thuốc của đại học Iowa (Iowa Drug Information Services). Phần mở đầu thường chỉ cần ba đoạn văn là đủ và thường không cần ghi tựa (ví dụ: đặt vấn đề hoặc mở đầu).

3. Phần báo cáo ca bệnh. Phần chính của bài báo, được trình bày theo trình tự thời gian và liên hệ nhân-quả của ca bệnh, tránh lập lại và viết các chi tiết không cần thiết. Trình bày các thông tin liên quan đến ca bệnh bao gồm tiền sử bệnh, chẩn đoán ban đầu, diễn tiến của bệnh: dấu hiệu sinh tồn, các kết quả xét nghiệm, các kết quả hội chẩn, nên tránh các chi tiết không liên quan đến ca bệnh. Ghi nhận hiệu quả của việc điều trị, các diễn tiến ngoài dự đoán, kết cục (outcome) của người bệnh, các đề nghị về hướng xử trí tiếp theo và tình trạng người bệnh vào thời điểm viết báo cáo. Phần tiền sử và đặc điểm cá nhân bao gồm tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, chủng tộc, nghề nghiệp, tiền sử gia đình…Tuy nhiên không ghi chi tiết cụ thể như ghi rõ tên, ngày tháng năm sinh, ngày giờ nhập viện, xuất viện của người bệnh để tránh người khác nhận dạng được. Mô tả rõ các thăm khám thực thể và các dấu hiệu bất thường. Các xét nghiệm và dữ liệu chẩn đoán ca bệnh và các chẩn đoán loại trừ phải được ghi ra, các giới hạn bình thường của các xét nghiệm ít phổ biến nên ghi trong ngoặc đơn. Chỉ cần ghi ý chính các kết quả cận lâm sàng (chẩn đóan hình ảnh, giải phẫu bệnh…) mà không cần ghi lại nguyên văn theo phiếu ghi kết quả. Các hình ảnh minh họa về người bệnh phải tránh nhận dạng được và có sự đồng ý của người bệnh.

Tiền sử về sử dụng thuốc phải được ghi nhận, đặc biệt báo cáo các ca bệnh có liên quan đến tác dụng phụ của thuốc gồm liều lượng, đường dùng và thời gian dùng thuốc. Tên thuốc đôi khi phải ghi cả tên thương mại vì tính sinh khả dụng và các phụ phẩm của thuốc tên thương mại thường khác thuốc tên gốc. Cũng cần ghi nhận tiền sử uống các loại thuốc khác như thuốc nam, thuốc đông y, chủng ngừa và các thuốc không cần kê đơn... Chế độ ăn của người bệnh cũng cần ghi nhận vì có sự tương tác giữa thức ăn với các thuốc người bệnh sử dụng, hơn nữa nhiều loại thức ăn cũng gây dị ứng như thuốc.

4. Phần bàn luận. là phần quan trọng nhất của báo cáo ca bệnh, đoạn văn đầu tiên thường nêu lên mục đích của báo cáo ca bệnh này, đoạn kế tiếp liên hệ đến các báo cáo trước đây về các trường hợp tương tự đã nêu trong y văn, cần phân tích sự giống nhau hoặc sự khác biệt với các trường hợp ghi nhận trước đây, lưu ý các bài báo tham khảo phải là bài báo gốc không được trích dẫn thông qua bài báo của tác giả khác. Đoạn văn cuối cùng, phần quan trọng nhất của phần bàn luận, là nêu được các chứng cớ khoa học để thuyết phục người đọc là ca bệnh mô tả được chẩn đoán là đáng tin cậy, các diễn tiến của ca bệnh này là logic và có những đặc điểm khác với các ca bệnh kinh điển thường được mô tả trước đây. Kết thúc phần bàn luận nên lên bài học kinh nghiệm được rút ra từ ca bệnh này.

5. Phần kết luận. Đôi khi không cần thiết hoặc chỉ tóm tóm tắt trong một câu văn về thông điệp chính hoặc bài học kinh nghiệm mà tác giả muốn chuyển tải đến người đọc, đồng thời gợi ý các ý tưởng mới cho các nghiên cứu trong tương lai.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ward S.P. Thalidomide and congenital abnormalities. British Medical Journal,1962 pp. 646
  2. Kidd M, Hubbard C. Introducing journal of medical case reports. J Med Case Reports. 2007;1:1.
  3. Cohen H. How to write a patient case report. Am J Health Syst Pharm. 2006;63:1888-92.
  4. Rahij Anwar. How to write a case report. Student BMJ, Volume 12, Feb 2004.
  5. Chang HM, Chen TW, Hsieh CB, Chen CJ, Yu JC, Liu YC, Shen KL, Chan DC. Intrauterine contraceptive device appendicitis: a case report. World J Gastroenterol.2005;11:5414-5.
  6. Karanikolas et al.Prolonged high-dose intravenous magnesium therapy for severe tetanus in the intensive care unit: a case series. Journal of Medical Case Reports 2010; 4:100
Nguồn Bvag.com.vn
Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Bài viết mới

Hướng dẫn điều trị loãng xương dành cho phụ nữ sau mãn kinh của Hiệp hội Nội tiết Hoa Kỳ ACP 2019

14-05-2019 Hits:134 Loãng xương BS Mai Trung Dũng

  Các chữ viết tắt: SERM = chất điều biến đặc hiệu thụ thể estrogen, HT = liệu pháp hormone Các khuyến nghị quan trọng trong Hướng dẫn được cập nhật bao gồm: Phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ gãy xương cao, đặc biệt phụ nữ mới bị gãy xương, nên được điều trị bằng thuốc vì lợi ích vượt trội nguy cơ. Nhóm bisphosphonate (alendronate, risedronate, zoledronic acid, ibandronate) được khuyến cáo khởi đầu điều trị. Nên đánh giá lại nguy cơ gãy xương sau 3-5 năm bắt đầu sử dụng nhóm bisphosphonate. Cân nhắc ngưng thuốc tạm thời ở bệnh...

Read more

 

Bệnh xã hội

Hệ cơ xương khớp là bộ khung nâng đỡ toàn bộ cơ thể và chi phối sự vận động. Trong đó Cột sống bao bọc và bảo vệ tủy sống, hệ thần kinh tự chủ và chỉ huy mọi chức năng chức phận hoạt động, chuyển hoá, tuần hoàn, bài tiết .Cột sống là trung tâm của hệ xương, làm cột trụ, quyết định sự sống và sự vận động, của mọi động vật có xương sống. Bệnh cơ xương khớp, cột sống là căn bệnh gây đau dai dẳng, tuy ít nguy hiểm nhưng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lao động và sinh hoạt, làm giảm chất lượng cuộc sống.

 

ĐAU CƠ XƯƠNG KHỚP, CỘT SỐNG HÀNH HẠ BẠN MỖI NGÀY?

“Vậy nguyên nhân là do đâu?"

Do tuổi tác: khi tuổi mỗi ngày một cao, quá trình thoái hóa cột sống và xương khớp sẽ tăng lên

Do làm việc nặng: làm cho xương khớp, cột sống liên tục phải chịu tải trọng cao và sớm bị bệnh

Do ngồi nhiều: ít vận động làm cho cơ bị mỏi, xương khớp không được nuôi dưỡng đầy đủ

Do chấn thương: gây tổn thương dây chằng, đĩa đệm và xương khớp

Vận động sai tư thế: làm áp lực nội khớp tăng lên đột ngột gây trượt đĩa đệm

Bệnh tự miễn: gây viêm dính đốt sống và các khớp 

Vi khuẩn: như vi khuẩn lao gây viêm đốt sống, xương khớp

Do thói quen không tốt, gây bất lợi kéo dài cho xương khớp liên quan đến nghề nghiệp

 

BỆNH CƠ XƯƠNG KHỚP CỘT SỐNG ẢNH HƯỞNG THẾ NÀO ĐẾN CUỘC SỐNG CỦA BẠN ?

Phòng khám Điều Trị Đau 589 Hoàng Hoa Thám cho bạn biết những ảnh hưởng đó

Cơ xương khớp, Cột sống hoạt động như một cây trụ cột giữ cho cơ thể con người có thể đứng thẳng. Cột sống còn là một chuỗi khớp xương xếp lại thành chồng nối liền đầu, mình, chân, tay, giúp cho đầu, thân và các chi vận động đa dạng, linh hoạt và thoải mái, nhờ vậy con người có thể vận động, lao động, sinh hoạt và tham gia mọi hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí.

Giảm lao động trí óc

Bạn không thể làm việc với máy tính, không thể đọc sách và nghiên cứu, không thể sáng tạo

Giảm lao động thể lực

Bạn không thể mang vác, không thể lái xe, không thể làm các việc nặng nhọc khác

Mắc thêm bệnh dạ dày do thuốc giảm đau

Hầu hết các thuốc giảm đau chống viêm đều gây hại cho dạ dày, hành tá tràng.

Giảm chất lượng cuộc sống

Đau làm bạn không thể vui chơi, giải trí, thể thao, giảm khả năng t.ì.n.h d.ụ.c

 

4 ƯU THẾ CỦA LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC SO VỚI LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC


Liệu pháp
không dùng thuốc

Độ chính xác: Liệu pháp không dùng thuốc do chỉ tác động cục bộ vào cơ quan, vị trí đau nên có độ chính xác cao, không ảnh hưởng toàn thân

Hiệu quả: Tác dụng giảm đau và giảm viêm mạnh xuất hiện ngay sau điều trị. Phối hợp nhiều phương pháp giúp điều trị cả căn nguyên và triệu chứng của bệnh.

Độ an toàn: Độ an toàn cao, không ảnh hưởng toàn thân, không có tai biến và biến chứng trong và sau điều trị.

Nguy cơ tái phát: Kết quả điều trị được duy trì bền vững, khả năng khỏi đau trong thời gian kéo dài do khối thoát vị đã bị thu nhỏ hoặc mất.

Liệu pháp dùng thuốc

Độ chính xác: Thuốc dùng dù uống, tiêm hay phong bế đều gây tác dụng toàn thân, nên có thể ảnh hương đên cơ quan khác

Hiệu quả: Tác dụng giảm đau và giảm viêm mạnh xuất hiện ngay sau điều trị. Nhưng không có thuốc hay phương pháp nào điều trị triệt để căn nguyên gây bệnh.

Độ an toàn: An toàn không cao, có nhiều nguy cơ tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt là tác hại đối với dạ dày, hành tá tràng.

Nguy cơ tái phát: Kết quả điều trị không bền vững do căn nguyên gây bệnh chưa được giải quyết.

 

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CƠ XƯƠNG KHỚP - CỘT SỐNG

ĐƯỢC PHÒNG KHÁM ĐIỀU TRỊ ĐAU (PK ĐA KHOA 589 HOÀNG HOA THÁM) ÁP DỤNG

Giá cả tại phòng khám

Cột sống

Phòng khám luôn cam kết chất lượng điều trị đặt lên hàng đầu với giá cả dịch vụ theo quy định của Bộ Y tế và UBND Tp Hà Nội.

Thông thường một liệu trình điều trị 10 ngày bao gồm 4-6 kỹ thuật điều trị (kéo giãn, châm cứu, điện xung, siêu âm, chườm thuốc, ...), mỗi ngày hết khoảng 250-300k, nếu đóng trước cả đợt 10 ngày sẽ được giảm ngay 10%.

Ngoài ra hiện tại Phòng khám đang triển khai Chương trình khuyến mại giảm ngay 20% và giảm tới 30% gói 10 lần điều trị cột sống.

NSƯT Anh Thái

Tôi thường xuyên bị đau lưng do thoái hóa cột sống, nhờ điều trị châm cứu, kéo giãn tại PK 589 Hoàng Hoa Thám mà bây giờ không còn đau nữa, cám ơn các bác sĩ và y tá.

Đỗ Ngọc Huyền

Mỗi lần đến phòng khám đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám, mình được phục vụ rất chu đáo và không phải chờ đợi để được khám và kết quả lâu. Mình rất thích cách làm việc đó

Mai Khánh Chi

Mình bị thoát vị đĩa đệm, đã điều trị nhiều nơi không đỡ, bác sĩ bảo có thể mình phải đi mổ, mình rất hoang mang và lo sợ. Nhưng sau khi được các bác sĩ PKĐK 589 điều trị điện châm, kéo giãn, mình đã hết đau không cần phải mổ nữa.

Liesna

Mình là người Indonesia nhưng là khách “ruột” của phòng khám, mỗi khi thấy đau lưng là mình hay qua đó để được điều trị. Nói chung là ok lắm từ thái độ phục vụ tới cách làm việc của đội ngũ nhân viên ở đó

Các chuyên đề cột sống

Viết bình luận

Bác sĩ chuyên khoa tư vấn