Khảo sát tình hình hội chứng ống cổ tay ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo định kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy

TÓM TẮT:

Mục đích: Khảo sát tình hình hội chứng ống cổ tay ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo định kỳ tại bệnh viện Chợ Rẫy.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là 197 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo định kỳ tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 2/2008 đến 4/2009 .Tất cả bệnh nhân này được thăm khám lâm sàng để tìm các rối loạn về cảm giác hoặc / và vận động ở bàn tay.Khi có rối loạn bệnh nhân được đo điện cơ. Bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng ống cổ tay khi có biểu hiện lâm sàng và đạt tiêu chuẩn chẩn đoán điện cơ hội chứng ống cổ tay của Stevens (2002).

Kết quả: 35/197(17,8%) bệnh nhân bị hội chứng ống cổ tay. Tuổi: <40 : 1BN (2,9%), 40-60 : 19BN (54,3%), >60 : 15BN (42,8%) trẻ nhất là 29tuổi, già nhất là 83 tuổi, tuổi trung bình là: 60 ± 13,81 tuổi. Nam: 10BN (28,6%), Nữ: 25BN (71,4%). Tỉ lệ nam : nữ là 1:2,5. 13 BN bị HC OCT ở 1 tay (8 tay nhẹ, 3 tay trung bình, 2 tay nặng), 22 BN bị cả 2 tay (9 tay nhẹ, 20 tay trung bình, 15 tay nặng). Như vậy có tổng số là 57 (57/394tay=14,47%) HC OCT được phát hiện trong đó có 17 (29,8%) tay nặng, 23 (40,4%) tay trung bình, 17 (29,8%) tay nhẹ.

Kết luận: Hội chứng ống cổ tay trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo định kỳ là một bệnh lý có thật mang những màu sắc riêng khác với hội chứng ống cổ tay vô căn. Tỉ lệ mắc cao và tăng dần theo thời gian. Phát hiện thường muộn. Các triệu chứng tăng lên trong lúc chạy thận là một gợi ý rất quí báu. Bệnh nhân chưa được cung cấp thông tin đầy đủ để cùng nhân viên y tế phát hiện bệnh sớm.

Từ khóa: Hội chứng ống cổ tay

 

ABSTRACT:

CARPAL TUNNEL SYDROME IN PATIENTS ON HEMODYALYSIS IN CHO RAY HOSPITAL

 

Purpose : To investigate carpal tunnel syndrome(CTS) in patients on heamo- dialysis in Cho Ray hospital.

Method and Materials: 197 patients on heamodialysis were involved in the study from February 2008 to April 2009. They were clinically examined to find any sensory or/and motor disorder of their hands. If they had the disorders , EMG of the hand would be carried on. Diagnosis of carpal tunnel syndrome would be established when both clinical disorders and EMG (according to Stevens’s criteria) were be found.

Results: 35/197 (17.8%) patients suffered from (CTS), including 10 male, 25 female. The average age was 60 ± 13.81 years old (youngest 29, oldest 83). There were 13 patients with one hand involved (8 mild, 3 moderate, 2 severe ) and 22 with both hands (9 mild, 20 moderate, 15 severe). Totally, 57/394 hands were detected CTS in which there were 17 mild , 23 moderate and 17 severe.

Conclusions: CTS in patients dialysis is a real pathology with distinct characteristics different from idiopathic one. The incidence ratio is high and increases timely. The detection is rather late. Symptoms worse during dialysis are valuable to diagnose. Less knowledge and co-operation with physians is one of the causes of retarded diagnosis.

Keywords: carpal tunnel syndrome

(*) Bộ môn CTCH-PHCN Đại học Y Dược TP. HCM

>> Xem toàn văn

Theo Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh Tập 14 Số 1 Năm 2010


Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Cột sống
Phòng khám Cột sống | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết