Các hình thức vận động

1. Tưởng động (vận động tưởng tượng).

Trường hợp bệnh nhân giảm hoặc mất vận động một bên (như liệt nửa người), vận động bên lành đồng thời tưởng tượng đang vận động cả bên liệt để tạo phản xạ đáp ứng đối bên.

2. Vận động thụ động.

Trường hợp người bệnh mất khả năng tự thực hiện động tác, cần phải nhờ lực tác động trợ giúp hoàn toàn. Vận động thụ động cần thiết để duy trì tầm vận động của khớp, chống teo cơ và cứng khớp. Vận động thụ động có thể là:

– Bằng tay và lực của người khác (kỹ thuật viên hoặc người trợ giúp khác), cố gắng giúp người bệnh thực hiện hết tầm vận động tối đa có thể được.

– Bằng đối lực, tư thế chống mẫu co cơ, các biện pháp kê chèn báo cát, gối đệm…

3. Vận động chủ động

3.1. Vận động chủ độngcó trợ giúp.

Trường hợp người bệnh có khả năng tự vận động được nhưng còn khó khăn và không hết tầm vận động, cần có sự trợ giúp thêm để thực hiện hết động tác cần thiết. Sự trợ giúp có thể là từ KTV và người nhà, dùng chi lành giúp chi liệt, dùng một số dụng cụ trợ giúp như ròng rọc, con lắc, tập vận động dưới nước để giảm bớt trọng lực của chi thể…

3.2. Vận động chủ động hoàn toàn.

Khi bệnh nhân đã tự mình thực hiện được động tác, tuy chưa thực chính xác nhưng cần khuyến khích người bệnh tập vận động chủ động lập đi lập lại nhiều lần theo sự hướng dẫn của KTV. Khi tập vận động chi nên tập ở gốc chi trước, cố gắng tập hết tầm vận động khớp.

3.3. Vận động có trở lực (vận động tăng tiến).

– Khi các động tác vận động chủ động đã khá hơn thì tiến hành tập có trở kháng như nâng một vật, kéo ròng rọc có lực nặng, kéo lò xo…

3.4. Vận động phối hợp động tác.

Là tập các động tác liên hoàn nhau, bao gồm các bài tập vận động trị liệu ở các mức độ khác nhau, có thể tập tay không hoặc sử dụng các dụng cụ như:

+ Ròng rọc: dùng chi lành kéo chi liệt, dùng kéo vật nặng.

+ Thanh song song: để tập đứng, tập đi.

+ Thang gióng thể dục: tập vận động chi trên, chi dưới, cột sống và toàn thân.

+ Xe đạp lực kế: tập vận động chi dưới.

+ Các máy tập đa năng khác.

3.5. Tập vận động dưới nước.

– Lợi dụng lực đẩy Archimède làm trọng lượng cơ thể và chi thể giảm đi tạo điều kiện thuận lợi cho tập vận động dễ dàng hơn.

– Lợi dụng sức cản của nước để tạo lực đề kháng trong luyện tập.

3.6. Tập động tác vận động bù trừ.

Trong một số trường hợp khi khả năng phục hồi không còn, có thể tập phát triển chức năng vận động bù trừ của phần chi thể còn lành để thay thế các động tác lẽ ra là của phần chi thể bị liệt.

3.7. Sử dụng dụng cụ trợ giúp.

Sử dụng các dụng cụ cần thiết giúp việc vận động, sinh hoạt dễ dàng hơn như: nạng, xe lăn, chi giả, nẹp chỉnh hình… Bên cạnh đó cần nghiên cứu cải tiến và sản xuất các dụng cụ sinh hoạt và lao động sao cho phù hợp với người khuyết tật.

4. Hoạt động trị liệu.

Là hình thức cao nhất của vận động nhằm đưa các động tác hữu ích vào phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt như đi lại, ăn uống, mặc quần áo, vệ sinh đến những hoạt động cao hơn như thể thao, lao động.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết