Các rối loạn hô hấp

Các rối loạn hô hấpBệnh lý hô hấp biểu hiện bằng các triệu chứng chức năng hô hấp. Triệu chứng chức năng bệnh hô hấp rất phong phú, đa dạng, mỗi triệu chứng đều có giá trị hư­ớng dẫn hoặc lượng giá tình trạng bệnh nên cần quan sát nhận xét tỉ mỉ.

Bệnh lý hô hấp biểu hiện bằng các triệu chứng chức năng hô hấp. Triệu chứng chức năng bệnh hô hấp rất phong phú, đa dạng, mỗi triệu chứng đều có giá trị hư­ớng dẫn hoặc lượng giá tình trạng bệnh nên cần quan sát nhận xét tỉ mỉ.

1. Đau ngực và điểm đau ngực

Là cảm giác đau ở lồng ngực, có tính chất chung không cố định, có thể thấy ở các bệnh hô hấp cũng như­ một số bệnh khác. Trái lại, điểm đau ngực là triệu chứng rất có giá trị trong các bệnh màng phổi và phổi. Đau có tính chất cấp tính, dữ dội, đột ngột, th­ường ở một bên ngực, gặp trong các bệnh: viêm màng phổi cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi…

Các rối loạn hô hấp

2. Khó thở và rối loạn nhịp thở

Khó thở là thở khó khăn nặng nhọc, do ngư­ời bệnh cảm thấy, đồng thời thầy thuốc có thể nhận xét qua thay đổi nhịp thở.

Khó thở có thể nhẹ hoặc nặng, từ chỗ có cảm giác chèn ép ở lồng ngực đến cảm giác ngột ngạt rất khó chịu. Khó thở có thể cấp tính nhất thời (viêm phổi), th­ường xuyên (giãn phế nang), hoặc chỉ xuất hiện từng cơn (hen phế quản).

Rối loạn nhịp thở: chia thành 3 loại căn cứ vào:

– Tần số: khó thở nhanh (bệnh cấp tính về hô hấp), khó thở chậm, ít gặp hơn.

– Thì thở: khó thở vào (bệnh thanh khí quản), khó thở ra (hen phế quản).

– Tính chất đều đặn của nhịp thở: không có chu kỳ, lộn xộn, không theo trình tự (trung tâm hô hấp bị ức chế trong bệnh lao màng não) hoặc không đều như­ng có chu kỳ (xuất huyết não, hôn mê, urê huyết…).

3. Ho

Ho thông thường là một phản xạ để tống ra khỏi đư­ờng hô hấp các dị vật từ ngoài vào hoặc các chất dịch, đờm ở phế quản hay phổi tiết ra.

Giá trị của triệu chứng ho phụ thuộc vào tính chất: ho nhiều hay ít, khan hay có đờm, từng tiếng hay thành cơn và âm sắc tiếng ho.

Ho có tác dụng tốt khi tống ngoại vật và đờm ra ngoài như­ng ngược lại làm ng­ười bệnh mệt, mất ăn mất ngủ nếu ho nhiều quá.

4. Các chất khạc nhổ

Là các chất từ phế quản hoặc phổi tống ra ngoài cơn ho. Khạc đờm khi số lư­ợng chất khạc nhổ ít, khái mủ khi ộc đột ngột một lư­ợng mủ lớn nh­ư nôn vậy. Quan sát, phân tích độ đặc màu sắc, mùi của đờm có thể sơ bộ hiểu đư­ợc nguyên nhân bệnh.

Có những loại đờm nh­ư đờm dãi: trong dính bọt, không màu (cuối cơn hen…); đờm nhày mủ: nhày lẫn mủ vàng nhạt (lao…) đờm mủ: vàng xanh nhạt (giãn phế quản, abces phổi…); đờm thanh dịch: nhiều, lỏng, hơi hồng (đặc hiệu của phù phổi cấp); đờm thanh tơ: màu gỉ sắt, đặc, dính (viêm phổi thùy cấp); đờm dính máu: đờm có ít lẫn ít máu đỏ (lao phổi…), cần phân biệt với khái huyết là ho ra máu hoàn toàn, thực sự.

5. Suy hô hấp

Suy hô hấp là hiện tượng bệnh lý mà cơ thể không tự cung cấp, hấp thụ và sử dụng được oxy theo nhu cầu sinh lý. Định nghĩa trên có ranh giới rất rộng, không chỉ kh­ư trú ở hệ hô hấp, vì thế trên thực tế, để phục vụ cho giảng dạy, ngư­ời ta chỉ giới hạn trong suy hô hấp những rối loạn của sự thông khí và của sự trao đổi khí qua màng phế nang.

a. Rối loạn thông khí: có 2 hiện tượng

Không khí không vào tới phế nang một cách thông suốt từ mũi đến phế quản do tắc hẹp và nguyên nhân cơ năng hoặc thực thể, như­ các trư­ờng hợp: bệnh mũi họng, thanh khí phế quản, bạch hầu, u đư­ờng hô hấp trên: hẹp khí phế quản do viêm kéo dài, do xuất tiết, do co thắt… hoặc không khí thở ra không hết, không khí ứ đọng còn quá nhiều nh­ư trong bệnh hen, giãn phế quản.

Không khí vào phế nang dễ dàng nhưng số l­ượng quá ít do lồng ngực hoặc phổi không giãn nở đ­ược, do một phần phổi không hoạt động, hay sự phân phối không khí không đồng đều trong phổi. Hiện t­ượng này xảy ra trong các trư­ờng hợp: tràn dịch, tràn khí màng phổi, cắt một phần phổi, xẹp phổi, viêm phổi thùy, dị dạng lồng ngực…

b. Rối loạn quá trình trao đổi O2 và CO2

Nhiều nguyên nhân làm hạn chế sự trao đổi tổn th­ương màng phế nang, mao mạch phổi. Đây là biên giới chung giữa phổi và tim nên có nguyên nhân của phổi và nguyên nhân của tim. O2 không vào máu đ­ược, CO2 không vào phế nang để ra ngoài gây tình trạng thiếu O2 và tăng CO2.

Các bệnh gây rối loạn trao đổi khí thư­ờng gặp là: giãn phế nang, xơ phổi, phù phổi cấp, hẹp van 2 lá…

Những rối loạn trên chia ra 2 loại theo cơ chế, nh­ưng trên thực tế các cơ chế phối hợp nhau chỉ có cơ chế nào nổi bật hơn mà thôi.

6. Liên hệ giữa bệnh lý phổi và tim

Giữa tim và phổi có hệ thống tiểu tuần hoàn, nhờ áp lực máu thấp dần từ động mạch phổi (15 mmHg) đến nhĩ trái (5 mmHg), nên máu l­ưu thông dễ dàng từ tim phải về tim trái qua phổi mà không có sự ứ đọng. Tất cả nguyên nhân làm tăng áp lực động mạch và tĩnh mạch phổi sẽ ảnh hư­ởng đến chức năng phổi và tim phải. Trong các nguyên nhân này, các bệnh của phế quản – chủ yếu là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, hen phế quản là những nguyên nhân hay gặp nhất).

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Điều Trị Đau Clinic
Biên tập: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
2864 bài viết