Nguyên tắc điều trị – phục hồi chức năng hô hấp

Nguyên tắc điều trị – phục hồi chức năng hô hấpTrước khi có kháng sinh, các bệnh phổi cấp do nguyên nhân nhiễm khuẩn là những bệnh nặng. Ngày nay, nhờ kháng sinh liệu pháp người ta ít thấy những bệnh cảnh lâm sàng nặng như thời trước, bệnh tiến triển tốt, ít biến chứng hơn.

1. Điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh

Trước khi có kháng sinh, các bệnh phổi cấp do nguyên nhân nhiễm khuẩn là những bệnh nặng. Ngày nay, nhờ kháng sinh liệu pháp người ta ít thấy những bệnh cảnh lâm sàng nặng như thời trước, bệnh tiến triển tốt, ít biến chứng hơn.

Muốn chọn được kháng sinh có hiệu quả, cần xác định vi khuẩn gây bệnh và sự cảm thụ của chúng đối với những kháng sinh có trong tay bằng các xét nghiệm vi khuẩn học và kháng sinh đồ, nếu không có điều kiện thực hiện việc đó thì phối hợp nhiều loại kháng sinh hoặc dùng loại kháng sinh có phạm vi công hiệu rộng.

Cho kháng sinh theo đường toàn thân (uống, tiêm…) là chủ yếu. Một số trường hợp có khoang mủ trong mô phổi hoặc màng phổi, có thể nhỏ giọt kháng sinh tại chỗ sau khi đã dẫn lưu mủ. những trường hợp viêm nhẹ đường hô hấp, thường dùng kháng sinh kết hợp với một số thuốc chữa triệu chứng dưới dạng khí dung. Một số trường hợp bệnh phế quản mạn tính, có thể phối hợp kháng sinh với corticoid một thời gian để hạn chế tiết dịch, giảm phù nề niêm mạc phế quản.

Đối với bệnh lao, có thuốc kháng lao đặc hiệu riêng, phải đảm bảo sử dụng thuốc điều trị bệnh có kiểm soát theo chiến lược DOTS hiện nay.

Nguyên tắc điều trị – phục hồi chức năng hô hấp

2. Điều trị triệu chứng

Rất cần thiết trong các bệnh hô hấp cấp tính do nguyên nhân viêm nhiễm, người bệnh thường sốt cao, đau ngực, ho, khạc đờm… vì vậy song song với điều trị đặc hiệu, cần thực hiện các biện pháp hạ nhiệt (chườm lạnh, cho thuốc hạ nhiệt), giảm đau, giảm ho, long đờm, an thần… người bệnh khó thở thì đặt nằm ở tư thế fu-le, cho thuốc kích thích trung tâm hô hấp, và cho thở oxy khi cần thiết. Trường hợp co thắt phế quản thì cho thuốc giãn phế quản, nhưng thuốc này ngoài tác dụng làm giãn phế quản còn có tác dụng kích thích trung tâm hô hấp và lợi niệu.

Tuy nhiên đối với bệnh hô hấp mạn tính, khi cho thuốc ho, giảm đau, an thần, hoặc trấn tĩnh thần kinh cần thận trọng vì một số thuốc như: codein, morphin, bacbituric… cản trở khạc đờm, ức chế trung tâm hô hấp và gây nghiện.

3. Điều trị ngoại khoa

Hiện nay do những tiến bộ của gây mê hồi sức và phẫu thuật lồng ngực, người ta không để các ổ mủ lớn hoặc tổn thương khư trú ở phổi – màng phổi kéo dài như trước đây. Điều trị nội khoa tích cực một thời gian người bệnh không đỡ thêm, ổ mủ vẫn tồn tại, hoặc tổn thương mạn tính đã khư trú thì chuyển điều trị ngoại khoa.

Ở màng phổi, những thủ thuật thường làm là dẫn lưu tối thiểu và bóc vỏ màng phổi (đơn thuần hoặc phối hợp với cắt bỏ). Đối với phổi người ta cắt phân thùy phổi hoặc cắt đoạn một bên phổi tùy theo mức độ tổn thương.

4. Vật lý trị liệu phục hồi chức năng

Vật lý trị liệu (VLTL) không được áp dụng trong giai đoạn cấp tính của bệnh hô hấp. Sốt là chống chỉ định tuyệt đối của mọi động tác VLTL. Kỹ thuật viên chỉ điều trị người bệnh khi giai đoan cấp tính đã qua. Phương thức trị liệu tùy theo từng bệnh mà thay đổi, vì yêu cầu không giống nhau mặc dù đều nhằm mục đích phục hồi chức năng hô hấp.

Trong điều trị phục hồi các bệnh mạn tính VLTL – đặc biệt là vận động hô hấp trị liệu ngày càng được sử dụng rộng rãi với mục đích làm gia tăng dung tích hô hấp, nhưng không gia tăng sự tiêu thụ oxy, nghĩa là không làm mệt người bệnh.

Đối với các bệnh hô hấp mạn tính như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), giãn phế quản, hen phế quản, khí phế thũng phổi… vận động hô hấp trị liệu có vai trò quan trọng do tác động trên các yếu tố sinh lý và cơ học của chức năng hô hấp, giúp người bệnh tống thải được các chất tiết dịch ra ngoài để sự thông khí được dễ dàng, kiểm soát được nhịp thở và tạo thư giãn trong cơn khó thở, gia tăng sự trao đổi khí bằng cách tập thở có hiệu quả và tập cho lồng ngực giãn nở tối đa, duy trì tầm vận động bình thường của cột sống và khớp vai, tránh được những biến dạng do tư thế xấu, kết quả là làm tăng tiến mức độ hoạt động của người bệnh.

Muốn đạt được kết quả trên, người bệnh cần tập thở đúng cách và vận động cơ hoành có hiệu quả nhất, đồng thời tập luyện cho các cơ hô hấp phụ ít hiệu năng được thư giãn. Nếu có nhiều đờm, người bệnh cần tập ho có hiệu quả và dẫn lưu bằng tư thế.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Điều Trị Đau Clinic
Biên tập: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
2864 bài viết