Phục hồi chức năng hô hấp cho người bệnh có di chứng lao phổi

Phục hồi chức năng hô hấp cho người bệnh có di chứng lao phổiLao phổi là bệnh lý làm tổn thương và hủy hoại nhu mô phổi, do xơ hóa kết hợp với tình trạng tắc nghẽn làm giảm chức năng hô hấp mạn tính, lâu dần có thể thể dẫn tới hậu quả là mất sức lao động.

Lao phổi là bệnh lý làm tổn thương và hủy hoại nhu mô phổi, do xơ hóa kết hợp với tình trạng tắc nghẽn làm giảm chức năng hô hấp mạn tính, lâu dần có thể thể dẫn tới hậu quả là mất sức lao động.

Gánh nặng bệnh tật do những di chứng của bệnh lao để lại ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của người bệnh là có những triệu chứng hô hấp như ho, khạc đờm, khó thở tăng dần và tâm lý rất lo lắng.

Một thực tế là tại Đơn vị CMU Bệnh viện Phổi Trung ương số người bệnh đã hoàn thành điều trị bệnh lao phổi đến khám ngày càng gia tăng, số người bệnh này mặc dù không có thương tổn lao đang hoạt động nhưng người bệnh có các biểu hiện lâm sàng và CNHH giống hoặc gần giống bệnh cảnh COPD.

Ngày nay, những biến đổi giải phẫu do di chứng của lao phổi có thể nhìn thấy rõ, được chứng minh bằng chụp cắt lớp vi tính. Có thể chia ra di chứng do: tổn thương nhu mô, tổn thương đường dẫn khí, tổn thương mạch máu (giãn mạch máu phế quản…), tổn thương trung thất (vôi hóa hạch trung thất sau lao…), tổn thương màng phổi (vôi hóa, dày dính…), tổn thương ở thành ngực.

Mối quan hệ giữa tổn thương di chứng lao phổi đến chức năng hô hấp đã được quan tâm từ rất lâu. Năm 1846, Hutchinson đã nói về sự suy chức năng hô hấp trong chẩn đoán bệnh lao. Sự suy giảm chức năng hô hấp tiến triển mạnh nhất sau 6 tháng hoàn thành liệu trình điều trị. Và sự suy giảm này có mối tương quan thuận với mức độ tổn thương lao và số lần bệnh nhân điều trị lao.

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đánh giá mối quan hệ này và một số tác giả đã đưa ra kết luận là 60% số người bệnh lao sau khi điều trị đều có suy giảm chức năng hô hấp ở cả 3 dạng: RLTK tắc nghẽn, hạn chế và hỗn hợp. Trong đó sự phổ biến của RLTK tắc nghẽn trên bệnh nhân đã điều trị lao phổi từ 28% – 68%. RLTK tắc nghẽn mạn tính đường dẫn khí có thể xuất hiện rất sớm hoặc ở giai đoạn di chứng của lao phổi, mặc dù bệnh nhân điều trị thành công. RLTK tắc nghẽn xuất hiện sau lao phổi, đặc biệt là ở bệnh nhân phát hiện muộn và bị tổn thương nhu mô rộng, nhất là có kèm theo hút thuốc lá. Ngày nay, nó được công nhận là một trong căn nguyên cho sự gia tăng số lượng người bệnh mắc COPD.

Suy giảm và rối loạn CNHH của người bệnh thuộc nhóm này bao gồm:

– RLTK hạn chế.

– RLTK hỗn hợp (RLTK hạn chế và RLTK tắc nghẽn).

Phục hồi chức năng hô hấp cho người bệnh có di chứng lao phổi

1. Một số điểm lưu ý:

PHCNHH đối với người bệnh lao phổi là cần thiết, nhằm tránh hậu quả và di chứng của bệnh, do đặc thù của sinh bệnh học, chỉ định PHCNHH trong lao phổi phải dựa trên nguyên tắc sau:

– Chỉ bắt đầu luyện tập khi AFB đờm đã được âm hóa.

– Người bệnh đã điều trị hóa trị liệu theo phác đồ của Chương trình chống lao quốc gia ít nhất sau 2 tháng trở lên.

– Khi tổn thương trên phim X-quang phổi được coi là ổn định nghĩa là không còn tổn thương loét đang tiến triển. tổn thương sẽ được coi là xơ hóa. Điều quan trọng là phải có kết luận của bác sĩ chuyên khoa từ trước khi điều trị và sau khi điều trị.

2. Chỉ định điều trị PHCN

a. Nhóm có RLTK hạn chế

Chỉ định điều trị bao gồm: kỹ thuật tập thở cơ hoành (thở bụng) là chủ yếu, đây là động tác thở nhằm huy động tối đa sự vận động của cơ hoành.

Người bệnh có thể ngồi, đứng hoặc nằm, tùy theo ý thích và sự thuận lợi của mỗi cá nhân. Khi hít vào cố gắng phình bụng ra hết sức nhằm vận động sự hạ thấp tối đa của cơ hoành, gây giảm áp lực trong thành bụng và thành ngực, do đó sẽ kéo vào phổi một lượng dưỡng khí nhiều hơn.

Sau đó đến thì thở ra người bệnh lại thót bụng vào hết sức, nhằm tăng áp lực trong thành bụng và thành ngực, do đó từ phổi sẽ đẩy được ra ngoài một lượng khí cặn nhiều hơn.

Thời gian tập nên tiến hành ngày hai lần: lần 1 vào buổi sáng khi mới ngủ dậy có thể ở trên giường gần cửa sổ có không khí thoáng đãng hoặc ở ngoài sân tùy theo thời tiết và theo sức chịu đựng của người bệnh; lần thứ 2 tập vào lúc trước khi đi ngủ, thời gian tập cho một lần không kéo dài quá 30 phút. Giữa thời gian tập có thể nghỉ 3 đến 5 phút trong trạng thái thư giãn (nằm hoặc ngồi trong tư thế duỗi hoàn toàn tất cả các cơ).

Đối với những bệnh nhân có suy hô hấp và già yếu thì việc tập chủ yếu theo kiểu dưỡng sinh bằng cách hít vào sâu (theo khả năng của người bệnh) sau đó cố gắng giữ lại hơi thở đó trong vài giây, và tiếp tục thở ra kéo dài. Việc tập thở đối với bệnh nhân sau khi bị lao phổi hay hầu hết các bệnh phổi khác là một chỉ định rất cần thiết nhằm huy động lại khả năng thông khí của phổi sau thời gian bị bệnh đã bị suy giảm đi. Điều đó cần phải được xác định rõ cho người bệnh hiểu, ý thức được và sẽ hoàn toàn tự giác trong tập luyện bởi vì sự luyện tập này hầu như sẽ đi theo họ suốt đời.

Vận động thể dục liệu pháp.

Ngoài việc tập thở như trên đối với người bệnh thì một bài tập thể dục chung cũng nhằm tăng cường độ giãn nở của phổi, và giúp phát tối đa sự hoạt động của các cơ hô hấp cũng hết sức cần thiết.

Có một điều cần lưu ý đối với người bệnh lao phổi khi có bội nhiễm kèm theo, chỉ định điều trị PHCNHH lúc này gần giống chỉ định như điều trị đợt cấp của nhóm bệnh nung mủ phổi phế quản. Các kỹ thuật bao gồm: hướng dẫn ho khạc đờm hiệu quả, dẫn lưu tư thế, vỗ rung để tống đờm dịch ra ngoài nhằm làm thông thoáng đường thở. Đây là một quyết định bởi đứng trước nguy cơ là sự lan tỏa bệnh do tác động vật lý và sự bít tắc đường thở do đờm dịch bội nhiễm dẫn đến nguy cơ suy hô hấp thì sự giải phóng đường thở sẽ rất quan trọng nên người thầy thuốc cần phải có sự lựa chọn kết hợp điều trị cho phù hợp.

b. Nhóm có RLTK tắc nghẽn kiểu COPD

Người bệnh thuộc nhóm này được áp dụng điều trị PHCNHH theo chương trình điều trị cho người bệnh COPD.

Thời gian: 8 tuần liên tục với mỗi tuần 3 buổi tập bao gồm 2 buổi có hướng dẫn của kỹ thuật viên tại bệnh viện, 1 buổi tập tại nhà theo bài tập định sẵn (tổng thời gian là 24 buổi tập trong đó có 16 buổi tập tại bệnh viện và 8 buổi tập tại nhà). Mỗi buổi tập 1 giờ trong đó tư vấn 15 phút, luyện tập 45 phút.

Sau 8 tuần, người bệnh cần duy trì tập luyện suốt đời mới đảm bảo các hiệu quả lâu dài. Và có sự theo dõi tiếp tục để cung cấp các tư vấn cần thiết.

Các thành phần của chương trình:

Bao gồm: tư vấn, giáo dục sức khỏe, vật lý trị liệu hô hấp và vận động thể lực.

Các chỉ số đánh giá hiệu quả bao gồm: Mức độ khó thở (MRC), Thang điểm chất lượng cuộc sống (SGRQ, CAT), Mức độ sử dụng các dịch vụ y tế (nhập viện) và tuổi thọ của người bệnh.

Chương trình điều trị cụ thể (xem chi tiết tại mục PHCNHH cho người bệnh COPD).

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Điều Trị Đau Clinic
Biên tập: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
2864 bài viết