Phục hồi chức năng trẻ bại não

3. Phân loại bại não.

Có 3 cách phân loại bại não:

3.1. Phân loại theo rối loạn vận động:

3.1.1. Bại não thể liệt cứng (Spasticity). Trong tổng số những người bị mắc bệnh bại não thì có đến 70 đến 80 phần trăm số người bị mắc bệnh bại não thể liệt cứng với các cơ co cứng, cử động khó khăn. Khi cả hai chân đều bị liệt (liệt cứng hai chi dưới), đứa trẻ có thể gặp khó khăn khi đi bởi vì các cơ bó sát trong hông và chân làm cho hai chân chụm vào nhau và giao nhau tại đầu gối (còn được gọi là cắt kéo). Trong những trường hợp khác, chỉ một bên cơ thể bị liệt (liệt cứng nửa người), và cánh tay thường bị liệt nghiêm trọng hơn chân. Trường hợp nghiêm trọng nhất là liệt cứng tứ chi, trong đó cả bốn chi và thân người bị liệt và thường thì cả các cơ điều khiển mồm và lưỡi cũng bị liệt. Trẻ em bị liệt cứng tứ chi bị chậm trí và có những vấn đề khác.

3.1.2. Bại não thể múa vờn (Athetosis). Trong tổng số những người mắc bệnh bại não thì có khoảng 10 – 20% số người mắc bệnh bại não thể múa vờn, căn bệnh gây ảnh hưởng tới toàn bộ cơ thể. Đây là thể bệnh được đặc trưng bằng sự thay đổi thất thường của trương lực cơ (lúc tăng, lúc giảm) và thỉnh thoảng có những cử động không kiểm soát được (có thể là những cử động chậm và đau hoặc nhanh và giật giật). Trẻ mắc bệnh này thường khó có tư thế ngồi hoặc dáng đi bình thường. Do các cơ điều khiển nét mặt và lưỡi cũng bị ảnh hưởng cho nên người bệnh cũng gặp khó khăn khi bú, nuốt và nói.

3.1.3. Bại não thể thất điều (Ataxia). Trong tổng số những người mắc bệnh bại não thì có khoảng 5 – 10% số người mắc bệnh bại não thể thất điều, căn bệnh ảnh hưởng đến khả năng cân bằng tư thế và phối hợp động tác. Người bệnh có thể đi nhưng với một dáng điệu không vững và gặp khó khăn với những cử động cần phải có sự phối hợp chính xác, ví dụ như viết.

3.1.4. Thể cứng đờ (Rigidity): thể này ít gặp, biểu hiện bằng cứng đờ (co cứng toàn diện), do tổn thương nặng nề thần kinh TW. Người bệnh mất vận động do sự đề kháng liên tục của các nhóm cơ vận và đối vận với trương lực gia tăng. Sự cứng đờ có thể liên tục hoặc từng hồi.

3.1.5. Thể liệt nhẽo (Flaccidty): Thể này rất ít gặp, trẻ liệt do giảm hoặc mất trương lực cơ, tiên lượng xấu vì phục hồi rất khó.

3.2. Phân loại theo phân bố định khu các rối loạn vận động:

– Liệt tứ chi.

– Liệt nửa người.

– Liệt hai chi dưới.

– Liệt một chi, ba chi.

3.3. Phân loại theo mức độ:

Có 3 mức độ căn cứ theo rối loạn vận động gây hạn chế khả năng thực hiện các sinh hoạt hàng ngày:

– Loại nhẹ: trẻ tự đáp ứng được các nhu cầu hàng ngày, di chuyển không cần trợ giúp, không có khiếm khuyết về tiếng nói, có khả năng tự đến trường. Loại này không cần điều trị phục hồi.

– Loại vừa: thiếu khả năng từ chăm sóc và di chuyển, có khiếm khuyết tiếng nói. Cần điều trị phục hồi.

– Loại nặng: khả năng tự chăm sóc, di chuyển rất kém, cần được điều trị phục hồi đặc biệt.

4. Các dấu hiệu nhận biết trẻ bại não.

Nếu trong thai kỳ, đặc biệt vào những tháng đầu tiên, mẹ bị các bệnh như cúm, sởi Đức, hoặc dùng một số thuốc có khả năng gây quái thai hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của ống thần kinh thì cần theo dõi đặc biệt. Những trẻ có tiền sử sinh non, ngạt chu sinh cũng là những đối tượng có nguy cơ cao.

4.1. Trẻ bại não thường có các dấu hiệu sớm sau đây:

– Khi đẻ ra không khóc ngay hoặc khóc yếu, tím tái.

– Sau khi sinh thường mềm nhẽo, không vận động

– Phát triển chậm hơn trẻ khác (chậm biết giữ đầu cổ, biết ngồi và đi).

– Không biết cầm nắm bằng hai tay hoặc chỉ cầm bằng một tay.

– Mút, bú khó khăn, hay sặc sữa.

– Khó bế ẵm, tắm rửa, thay quần áo cho trẻ vì người trẻ cứng đờ.

– Đầu rũ xuống, không ngẩng lên được.

– Nghe khó, nhìn khó.

– Khó khăn trong giao tiếp.

– Có thể bị động kinh (cơn co giật, bất tỉnh, sùi bọt mép).

– Thay đổi tính cách bất thường (đột nhiên khóc, rồi lại cười, hay sợ hãi, co giật, tức giận).

– Khả năng thăng bằng kém.

4.2. Khám lâm sàng

Mặc dù nguyên nhân bại não là do những sự kiện xảy ra trong thai kỳ và trong hai năm đầu đời sống, việc đánh giá và chẩn đoán bại não trước hai tuổi rất khó khăn. Khám trương lực cơ, cơ lực đòi hỏi phải có chuyên môn sâu về thần kinh nhi khoa. Trương lực cơ có thể tăng hoặc giảm. Các phản xạ nguyên thủy thường mất đi sau 6 tháng nhưng ở trẻ bại não thì các phản xạ này tồn tại lâu hơn. Trẻ nhỏ trước 12 tháng thường không biểu hiện rõ thuận tay nào. Nhưng đối với trẻ bị bại não (nhất là thể liệt cứng nửa người) thì khuynh hướng thuận tay xuất hiện sớm (do bên liệt vận động khó, trẻ phải vận động bên lành). Đánh giá sự phát triển tâm thần vận động thường có thể dựa vào các tiêu chuẩn như tiêu chuẩn Amiel-Tison hoặc thang đánh giá Denver.

4.3. Xét nghiệm hỗ trợ

Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm não qua thóp, chụp cắt lớp vi tính đặc biệt là chụp cộng hưởng từ cho biết những thông tin giá trị về tổn thương não. Các xét nghiệm hóa sinh hay di truyền tùy theo hướng chẩn đoán trên lâm sàng. Đo điện não đồ cũng là một xét nghiệm cơ bản không thể thiếu trong chẩn đoán bại não cũng như các bệnh của hệ thần kinh trung ương khác.

Tóm lại việc chẩn đoán sớm bại não có ý nghĩa rất quan trọng vì nếu điều trị và PHCN sớm phần lớn trẻ em bại não có thể cải thiện đáng kể được những khả năng của mình và có cơ hội hoà nhập cộng đồng.

(Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !
Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

Có thể bạn quan tâm