Đau ngực sau tai nạn giao thông, chú ý chấn thương ngực kín

(ĐTĐ) – Gần đây, chấn thương ngực kín (CTNK) có xu hướng ngày càng gia tăng do sự phát triển của các phương tiện giao thông cơ giới.
 

Đó là nhận định của nhóm nghiên cứu gồm BS Trần Việt Dương (Viện Y học hàng không) và BS Nguyễn Trung Quân (Bệnh viện 103) sau khi thực hiện nghiên cứu hoạt động cấp cứu tại BV 103 trong 3 năm (2006 – 2009).

Đau ngực sau tai nạn giao thông, chú ý chấn thương ngực kín

Chấn thương vùng ngực là chấn thương thường thấy trong các tai nạn, nhưng CTNK lại khá nguy hiểm vì các bộ phận bên trong cơ thể bị chấn thương nhưng vùng da bên ngoài ngực vẫn bình thường, khó nhận bệnh bằng mắt thường, nhiều người bị đau ngực nhưng không chú ý thăm khám kịp thời có thể gây ra nhiều nguy cơ nghiêm trọng.

Theo nhóm nghiên cứu, trong 3 năm 2006 – 2009, BV đã tiếp nhận 72 bệnh nhân bị chấn thương ngực kín, đa số BN trong độ tuổi lao động và đa số là nam giới. Trong các nguyên nhân gây CTNK, nhiều nhất là do tai nạn giao thông (76,4%), sau đó là tai nạn sinh hoạt (15,3%), tai nạn lao động chỉ chiếm 8,3%. Các tỷ lệ này tương đồng với tỷ lệ của thế giới.

Đa số BN được chuyển trực tiếp đến Bệnh viện 103 (41,7%) nhưng vẫn còn nhiều BN được chuyển viện theo cấp từ tuyến trạm xá xã đến bệnh viện huyện và bệnh viện tỉnh… Điều này góp phần kéo dài thời gian cấp cứu cho BN.

Theo nhóm nghiên cứu thì trong điều kiện nước ta hiện nay, không ít cơ sở điều trị còn có những khó khăn về khả năng và phương tiện chẩn đoán, nên trong chẩn đoán và điều trị CTNK, nhất là CTNK có tràn máu, tràn khí mà phổi còn có bất cập. Do đó, nhiều bệnh nhân (BN) đã được chẩn đoán và xử trí chưa hợp lý, để lại những biến chứng, thậm chí có trường hợp tử vong.

Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu xây dựng nên những đặc trưng lâm sàng và cận lâm sàng về chứng này tại Việt Nam, góp phần cho các BS nhanh chóng chẩn đoán và có biện pháp cấp cứu kịp thời.

Theo nhóm nghiên cứu thì chẩn đoán các tổn thương của CTNK chủ yếu bằng khám xét lâm sàng. Trong nghiên cứu này, các BS nhận thấy các triệu chứng lâm sàng phổ biến của BN CTNK là các triệu chứng đau ngực (100%), khó thở (73,5%), rì rào phế nang giảm (98,6%) chiếm tỉ lệ cao. Triệu chứng ho ra máu (1,3%), tràn khí dưới da (15,2%), ngất thời gian ngắn (27,8%) gặp tỉ lệ thấp hơn. Đây là các triệu chứng lâm sàng quan trọng để BS chẩn đoán bệnh.

Các nhà nghiên cứu còn cho biết: “Qua nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng tổn thương kết hợp trong CTNK có tràn máu, tràn khí màn phổi chiếm tỉ lệ lớn, ngoài việc phát hiện xử trí các tổn thương ở ngực, cần khám xét toàn diện để phát hiện các tổn thương kết hợp khác vì trong nhiều trường hợp, các tổn thương kết hợp dễ bị bỏ sót làm cho các triệu chứng của CTNK bị lu mờ, dễ bị chẩn đoán sai lạc, dẫn đến những sai lầm đáng tiếc trong theo dõi và xử trí cấp cứu”.

Về các đặc điểm cận lâm sàng, thăm khám cận lâm sàng như chụp X quang lồng ngực, siêu âm KMP và chọc hút thăm dò KMP (khí màn phổi) là các phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất trong chẩn đoán xác định CTNK có tràn máu, tràn khí KMP.

Nhóm nghiên cứu cho rằng: “Trong nghiên cứu của chúng tôi, 67/72 BN (93,1%) được chụp X quang lồng ngực, trong đó 65/67 BN (97,1%) xác định được chẩn đoán và 2/67 BN (2,9%) không xác định được chẩn đoán, phải làm siêu âm KMP mới khẳng định được tràn máu, tràn khí KMP. Theo chúng tôi, siêu âm KMP là phương pháp thăm khám có độ nhạy rất cao trong việc xác định chẩn đoán tổn thương KMP, nhất là trong các trường hợp cần xác định có tràn máu trong KMP”.

Theo AloBacsi

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Điều Trị Đau Clinic
Biên tập: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
2863 bài viết