Điều trị đau .com
  • Nơi cung cấp thông tin về Đau và Điều trị đau !
0124 589 8686

(ĐTĐ) - Đa u tủy xương hay bệnh Kahler do tăng sinh tương bào đơn dòng và rối loạn globulin miễn dịch. Là một bệnh máu ác tính thường có kèm tổn thương thận.
 

Các triệu chứng thường gặp của bệnh: người bệnh thường thấy đau xương ở phần lưng, có thể xuất hiện tình trạng gãy xương bệnh lý, cảm giác yếu, mệt mỏi. Lúc nào cũng thấy khát, thường xuyên bị nhiễm khuẩn và sốt, gầy sút cân, buồn nôn, táo bón, đi tiểu thường xuyên...

Xác định bệnh dựa vào huyết đồ, tủy đồ, sinh thiết tủy, điện di miễn dịch máu và nước tiểu, Xquang. Creatinin máu trên 160micromol/lít là một dấu hiệu tiên lượng quan trọng.

Tế bào máu trong bệnh đa u tủy xương.

Thuốc dùng để làm gì?

Thuốc trong điều trị bệnh lý này có các mục đích sau:

Hạn chế sự lắng đọng chuỗi nhẹ globulin miễn dịch nhằm: đảm bảo khối lượng nước tiểu hằng ngày nhiều, có thể từ 2,5 - 3 lít/ngày bằng cách uống nhiều nước hoặc truyền dung dịch glucose 5%; Kiềm hóa nước tiểu để pH nước tiểu trên 7 bằng cách truyền dung dịch natri bicarbonat 1,4% hoặc dung dịch ringer lactat.

Giảm sản xuất chuỗi nhẹ globulin miễn dịch bằng hóa trị liệu. Đây là biện pháp quan trọng cần áp dụng sớm và theo dõi sát chức năng sinh tồn, chức năng thận với định lượng nồng độ creatinin huyết thanh.

Các thuốc điều trị

Cần chọn phác đồ hóa trị liệu phù hợp với giai đoạn bệnh và tình trạng bệnh nhân. Hiện nay trên thế giới có các phác đồ:

Phác đồ kết hợp 2 loại thuốc MP áp dụng ở giai đoạn nhẹ, bắt đầu: melphalan, prednisolon. Với bệnh nhân có chỉ định điều trị hóa chất liều cao, nên tránh sử dụng melphalan và các chất alkyl hóa trước do ảnh hưởng đến khả năng phát triển của tủy xương và có thể dẫn đến hội chứng loạn sản tủy hoặc leucemie cấp thể tủy.

Phác đồ 3 loại thuốc VAD được nhiều cơ sở áp dụng: vincristin, adriamycin, dexamethason. Thường được sử dụng như phác đồ ''làm sạch tủy'' trước điều trị hóa chất liều cao. Tỉ lệ đáp ứng với phác đồ VAD là 55% ở những bệnh nhân chưa được điều trị, đáp ứng điều trị đến sớm hơn so với phác đồ MP, do đó đối với bệnh nhân có biến chứng tăng calci máu, suy thận hoặc đau xương, phác đồ VAD mang lại nhiều lợi ích.

Phác đồ 4 loại thuốc VMCP: vincristin, melphalan, cyclophosphamid, prednison.

Phác đồ MPT: melphalan, prednison, thalidomid.

Phác đồ Tha - Dex là phác đồ mới: thalidomid, dexamethason. Tuy nhiên, phác đồ phối hợp này làm tăng nguy cơ bị viêm tắc tĩnh mạch và cần được điều trị dự phòng.

Phác đồ VBAP: vincristin, BCNU (carmustin), adriamycin, prednison.

Dùng dexamethason liều cao.

Các trung tâm hoặc bệnh viện huyết học sẽ chọn các phác đồ phù hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam và của từng bệnh nhân.

Ngoài sử dụng thuốc theo một trong các phác đồ đã nêu trên, cần dùng thêm các thuốc phối hợp:

Thuốc chống tiêu xương, loãng xương: biphosphat (aredia), calcitonin.

Thuốc kích thích cấu tạo hồng cầu: epokin, neorecormon.

Ngoài ra, còn có các phương pháp điều trị bổ sung: thay huyết tương, ghép tế bào gốc, lọc ngoài thận khi suy thận giai đoạn cuối.

 Nguồn Suckhoedoisong.vn 

Bạn đánh giá: 0 / 5

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Một số vấn đề cơ bản về bệnh loãng xương

11-12-2017 Hits:276 Loãng xương DrBlack

Loãng xương là một chuyên ngành còn rất mới, ban đầu được cho là một bệnh thứ yếu. Song khi nghiên cứu sâu về Loãng xương cho thấy tỷ lệ lưu hành, tỷ lệ biến chứng gãy xương và tỷ lệ tử vong do biến chứng gãy xương ngày một tăng, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh. Do vậy ngày nay Loãng xương đã trở thành một chuyên ngành nghiên cứu sâu về cấu trúc, chức năng và bệnh lý nguyên phát của xương.  Các khía cạnh được đề cập đến trong bài viết này bao gồm: 1. Chẩn đoán...

Read more

Viết bình luận