Điều trị đau .com
084 589 8686

(ĐTĐ) - Thoái hóa gân Achilles có đặc điểm là thoái hóa bên trong gân và dạng nhày (mucoid) của gân Achilles mà không có dấu hiệu viêm mô quanh gân (viêm).
 

Tiến trình khởi đầu là một suy năng vi tế bào kẽ, dẫn đến hoại tử mô trung tâm và nối tiếp sau đó là thoái hóa dạng nhày. Thoái hóa gân Achilles đa phần xảy ra ở vận động viên trưởng thành sau những vi chấn lặp đi lặp lại tích tụ do tập luyện sai. Điều này có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ đứt gân Achilles.

Thoái hóa gân Achilles có thể liên quan đến điểm bám tận ( thường có liên quan đến sự cốt hóa trên phim thẳng) hoặc có thể xảy ra ở vùng không có mạch máu (2 đến 6 cm đầu gần điểm bám tận).

Mô nhìn chung không viêm, kèm với sự giảm tế bào và sợi collagen bên trong gân. Cùng với sự vô tổ chức của các sợi collagen, có sự mọc vào trong của những sợi mạch rải rác và những vùng hoại tử cơ hội và ít nhiều sự cốt hóa.

Lúc đầu, bao mô quanh gân có thể bị viêm, và cùng với sự dùng quá nhiều, bản thân gân cũng viêm hoặc thiểu mạch vì sự cản trở dòng máu nuôi đến mô quanh gân bị sẹo.

Những dấu hiệu lâm sàng và triệu chứng

Sự thoái hóa gân Achilles thường không có triệu chứng và vẫn duy trì hạ lâm sàng cho đến khi gân bị đứt. Nó có thể kích hoạt sự khó chịu nho nhỏ khi hoạt động, và khối cơ sờ không thấy đau không thấy nổi cục ở vùng 2 đến 6 cm đầu gần điểm bám tận (nói cách khác là ở vùng vô mạch). Điều này có thể tiến triển dần thành sự hóa dày toàn bộ miếng gân.

Dấu hiệu đau vòm (the painful arc sign) dương tính ở bệnh nhân có thoái hóa gân Achilles. Phần dày của gân di động khi gập chủ động mặt lòng và lưng bàn chân (trái với viêm mô quanh gân, vùng nhói đau vẫn ở nguyên một chỗ dù có gập mặt lưng và lòng bàn chân)

Viêm mô quanh gân và thoái hóa gân có thể cùng tồn tại khi có viêm ở mô quanh gân và sự thoái hóa ổ trong gân. Trên lâm sàng nó thể hiện là viêm mô quanh gân vì triệu chứng liên quan với thoái hóa gân không thấy được hoặc rất là mơ hồ. Hầu hết bệnh nhân tìm cách chữa chạy những triệu chứng có liên quan đến viêm mô quanh gân và thường thường sự thoái hóa gân không được nhận diện cho đến khi cả hai tiến trình trên được nhìn thấy trên MRI hay trên bàn mổ (thường nhất là sau đứt gân). Điều trị bảo tồn giống với điều trị cho viêm mô quanh gân. MRI rất hữu ích khi lên kế hoạch tiền phẫu, là thứ phải xem dù có mổ hay không.

Điều trị

Điều trị ban đầu cho thoái hóa gân Achilles luôn là điều trị bảo tồn và những tiến trình đã được mô tả như cho viêm mô quanh gân. Nếu những triệu chứng là nghiêm trọng, thì điều trị ban đầu có thể bao gồm 1 đến 2 tuần bất động và di chuyển bằng nạng, thêm thuốc kháng viêm không steroid, chườm đá, và kéo dãn gân gót. Lượng giá kỹ sự thẳng hàng của bàn chân và chân, kèm chỉnh cụ nếu cần.

Miếng dán khu trú glyceril trinitrate được áp dụng trong 6 tháng cho thấy có hiệu quả hơn cho việc điều trị bệnh học thoái hóa gân Achilles không liên quan đến điểm bám tận hơn là thuốc vờ (placebo) trong một nghiên cứu mù đôi ở Úc (Paoloni và cộng sự, 2004). Những bệnh nhân nhận được miếng dán thuốc thì giảm đau đáng kể khi hoạt động trong 6 tháng. Sáu mươi tám phần trăm của tổng số 36 ca trong nhóm có thuốc không xuất hiện có triệu chứng so với 49% trong tổng số 41 ca ở nhóm đối chứng. Điều trị bảo tồn được tiếp tục trong 4 đến 6 tháng; chỉ định phẫu thuật nếu điều trị cách đó không làm giảm triệu chứng.

Điều trị phẫu thuật

MRI được dùng để chẩn đoán và lên kế hoạch cho tiến trình phẫu thuật.

Kỹ thuật

Bệnh nhân nằm sấp đùi buộc garo, bàn chân trồi ra ngoài cạnh bàn. Vết mổ ở phía sau trong sát gờ gân (tránh thần kinh bắp chân). Vạt mô dày được tạo bằng những mô mềm (đoạn này cho bác sĩ phẫu thuật, lười dịch). Mô quanh gân được kiểm tra và bất kỳ sự kết dính tăng sinh mô quanh gân nào vào gân là được cắt bỏ. Rạch một đường dọc ở thân gân ở những chỗ hóa dày và nổi cục để làm lộ vùng hoại tử gân trung tâm. Vùng thoái hóa bị cắt bỏ (nên đối chiếu với MRI). Sự mở ổ được theo sau là sự đóng vết mở ngay cạnh bên để sửa chữa khuyết tật. Nếu khiếm khuyết quá lớn để có thể đóng lại phần lớn hoặc thiếu khối gân thỏa đáng sau mở ổ, thì gân Achilles cần được tái tạo bằng gân gan bàn chân, cơ gập các ngón dài hay một vạt cơ lật xuống.

Phác đồ phục hồi chức năng

Sau mở ổ một thoái hóa gân Achilles

  • Đặt nẹp chêm ở vị thế trung tính
  • Cử động không chịu sức nhẹ nhàng bắt đầu ở tuần đầu tiên; tập ROM chủ động và thụ động gập mặt lưng bàn chân với dải cao su nhiều lần mỗi ngày.
  • Giày đi tháo ra được có gót điều chỉnh được dùng trong 2-4 tuần. Nạng chống giúp di chuyển trong 10-14 ngày đầu. Được 2 tuần thì cho chịu sức không có nạng chân mang giày nếu đau có thể chịu được.
  • Đạp xe tại chỗ bắt đầu khi bệnh nhân di chuyển thoải mái rồi.
  • Bơi và chạy nước bắt đầu khi vết thương hoàn toàn lành.
  • Sau 8-10 tuần thường bắt đầu cho phép chạy.
  • Cho phép thi đấu lại sau 4-6 tháng.
  • Nếu có tái tạo lớn khi mở ổ thì sự phục hồi chức năng phải được tiến hành chậm hơn, giống như trường hợp chữa đứt gân sau đây.

Điều trị phẫu thuật rách hoàn toàn gân Achilles

Điều trị bằng phẫu thuật nhìn chung thường áp dụng cho người trẻ tuổi, vận động viên và những bệnh nhân có lối sống năng động. Đường rạch và cách tiếp cận cũng giống như điều trị phẫu thuật trong viêm mô quanh gân và thoái hóa gân. Vết rạch tiếp cận phía trong là để làm lộ các điểm bám tận của gân, và kỹ thuật bổ sung Bunnell được dùng để sửa chữa lại vết đứt.

Phác đồ phục hồi chức năng cho sau phẫu thuật sửa chữa đứt gân Achilles cấp ở vận động viên.

(Tác giả: Brotzman)

  • Đặt nẹp lót đệm dày phía sau cho bàn chân gập (rũ) 20 độ kèm một cái băng cổ chân hình bàn đạp ngay sau mổ.
  • Chống nạng không chịu sức trong 4 tuần
  • Tiến tới chịu sức một phần trên nạng để trợ giúp khi di chuyển cùng với quấn băng đến dưới gối.

Dành cho những vận động viên trình độ cao

Đầu tiên dùng một cái cam boot (hình) rũ bàn chân 15-20 độ (gập mặt lòng), có mặt chia độ, có cái nâng gót, và một chiếc giày ôm cổ chân chỉnh 20 độ gập mặt lòng.

Có thể tập những bài ROM khớp không chịu sức 7 ngày sau mổ. Vết rạch phải liền tốt trước khi bắt đầu tập.

Những bài tập đầu tiên bao gồm chủ động gập mặt lòng và mặt lưng rất nhẹ nhàng giới hạn đến 20 độ, hai đợt mỗi đợt 5 cái, thực hiện ngày 3 lần.

Sau 1 tháng, bắt đầu đưa chân về vị thế trung tính bằng cách giảm độ nâng gót ở giày 1cm. Bỏ hết cái nâng gót sau khoảng độ 6 đến 8 tuần.

Dùng giày đi chuyên biệt trong 6-8 tuần, sau đó chuyển sang đi giày thường nếu đã bỏ gần hết cái nâng gót (ở giày chuyên biệt)

Đạp xe đạp tại chỗ (không đề kháng) và bơi bắt đầu được ở tuần thứ 6.

Dần trở lại thi đấu như đối với điều trị bảo tồn. Phải lấy lại đầy đủ sức mạnh và sức bền (như với chân lành) và phải hoàn tất được chương trình chạy (trước khi trở lại thi đấu)

Dành cho những vận động viên ở những môn ít đòi hỏi thể lực hơn

Dùng băng băng dưới gối, không chịu sức, băng rũ bàn chân trong 6-8 tuần, sau đó bỏ 1 cm nâng gót ở giày chỉnh cụ sau 1 tháng.

Tiến tới những bài tập đề kháng không chịu sức khi được 8-10 tuần.

Đạp xe đạp tại chỗ và bơi sau khoảng 8 tuần.

Trở lại một vài hoạt động thể thao (chạy nhẹ) sau 5-6 tháng nếu sức mạnh cơ đạt 70% so với chân lành.

Nhìn chung, trở lại hoàn toàn với hoạt động bình thường mất khoảng 1 năm, nhưng cũng có thể cần lên đến 18 tháng.

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Báo động tình trạng sớm thoái hóa cột sống cổ ở dân văn phòng

21-10-2018 Hits:1397 Thông tin sản phẩm Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm

(ĐTĐ) - Hiện nay bệnh đau lưng, đau vai gáy, nhức mỏi cơ bắp đang ngày càng gia tăng đặc biệt là đối với người cao tuổi và người làm việc văn phòng ít vận động, người làm việc nặng quá sức...   Có rất nhiều người sau một đêm ngủ dậy bỗng thấy thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt là đau tê dại vùng vai, gáy, lưng nhiều khi đau lan xuống bả vai, làm tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay. Có thể có các điểm đau khi ấn vào các gai sau và cạnh cột...

Read more

Các chuyên đề cột sống

Viết bình luận