Điều trị loãng xương

ĐTĐ –  Loãng xương đang tác động vào 1/3 nữ giới và 1/5 nam giới trên 50 tuổi. Đây là một trong những căn bệnh phát triển nhanh nhất trên thế giới, chỉ đứng sau các bệnh về tim mạch.

 

Lựa chọn thuốc điều trị loãng xương.

Để chọn một loại thuốc điều trị loãng xương thì người bác sĩ sẽ phải ghi nhận tất cả chi tiết trong bệnh sử của bệnh nhân và mức độ nặng của loãng xương.

Nếu một phụ nữ sau mãn kinh còn các triệu chứng khác của thời kỳ mãn kinh như đỏ bừng mặt và khô âm đạo thì estrogen sẽ là lựa chọn thích hợp trong điều trị các triệu chứng trên cũng như để ngăn ngừa loãng xương.

Sau khi các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh qua đi thì nên xem xét việc sử dụng estrogen hay các thuốc trị loãng xương khác cho mục đích dài hạn.

Nếu khi xem xét thấy chỉ có vấn đề phòng ngừa và điều trị loãng xương thì việc chọn sử dụng các thuốc   bisphophonate như alendronate hay resedronate đều cho hiệu quả tương đương với điều trị thay thế bằng estrogen.

Ở các bệnh nhân bị trào ngược dạ dày thực quản, hoặc có triệu chứng ợ chua, risedronate gây ít kích thích thực quản hơn so với dùng alendronate.

Calcitonin là thuốc chống hủy xương yếu hơn estrogen, alendronate (Fosamax), và risedronate (Actonel). Thuốc được dùng trong trường hợp thất bại với các loại thuốc khác. Raloxifene cũng là một thuốc có tác dụng cải thiện đậm độ xương yếu hơn estrogen, alendronate (Fosamax) và resedronate (Actonel). Do đó, ở các bệnh nhân loãng xương ở mức độ vừa đến nặng thì điều quan trọng là phải sử dụng các thuốc có khả năng ức chế hủy xương mạnh hơn. Người ta vẫn chưa nghiên cứu kỹ về độ an toàn và hiệu quả của raloxifene sau hơn 3 năm dùng thuốc.

Raloxifene và điều trị thay thế bằng estrogen khác nhau về tác dụng phụ cũng như về mức độ ảnh hưởng lên các loại Cholesterol. Ví dụ như raloxifene không làm tăng HDL cholesterol (vốn rất có lợi cho cơ thể) trong khi estrogen có khả năng đó. Tuy vậy, cả hai đều có tác dụng làm giảm loại LDL cholesterol có hại cho cơ thể.

 Bổ sung Calcium 

·    800mg/ngày cho trẻ em 1 – 10 tuổi

     1000mg/ngày cho người lớn, phụ nữ tiền mãn kinh, sau mãn kinh sử dụng estrogen.

     1200mg/ngày cho thiếu niên và người trẻ tuổi (11 – 24)

     1500mg/ngày cho phụ nữ sau mãn kinh không dùng estrogen.

     1200mg – 1500mg/ngày cho phụ nữ có thai và cho con bú.

     Tổng lượng Ca dùng hàng ngày không quá 2500mg.

     Lượng Ca dùng mỗi ngày được tính theo phương pháp sau:

     Không kể sản phẩm dùng hàng ngày, chế độ ăn trung bình của người Mỹ có khoảng 250mg Ca.

     Có khoảng 300mg Ca trong 1 ly sữa hoặc yaourt ( 8 ao-xơ); hoặc thỏi phô mai 16 ao-xơ.

     Người có chế độ ăn trung bình của Mỹ dùng một ly sữa 8 ao-xơ sẽ được khoảng 550mg Ca

     Người uống 2 ly sữa (hoặc 1 ly sữa và 1 thỏi pho mai 16 ao-xơ) sẽ nhận được 850mg Ca.

Thật không may, những cuộc khảo sát cho thấy rằng phụ nữ Mỹ thường dùng dưới 500 mg Ca/ngày trong khẩu phần ăn, ít hơn lượng được khuyến cáo. Lượng Calci bổ sung có thể được cung cấp bằng cách uống nhiều sữa, ăn nhiều yaourt, phômai hoặc bổ sung Ca trong thức ăn như nước cam.

Ca bổ sung có rất nhiều loại: Caltrate, Os-Cal, Tums là dạng muối Canxicarbonat. Mỗi 1250 mg viên muối Caxicarbonat ( Caltrate 600mg, Os-cal 800mg, Tums 500mg) chứa 500mg Ca. Một người cần khoảng 1000mg Ca/ngày có thể dùng 1 viên Tums 500mg ( chứa khoảng 500mg Ca) 2 lần/ngày trong bữa ăn.

Cách bổ sung Ca tốt nhất là uống từng liều nhỏ trong mỗi bữa ăn. Ruột non có thể không có khả năng hấp thụ quá 500mg Ca một lần. Vì thế, cách tốt nhất để hấp thu 1000mg Ca thì chia làm 2 lần. Tương tự, liều 1500mg thì chia làm 3 lần.

Lượng Ca bổ sung nhìn chung rất an toàn và dung nạp tốt. Tuy nhiên, có thể gây ra tác dụng phụ là khó tiêu và táo bón, khi đó có thể dùng Caxicarbonat, Caxicitrat (Citracal). Một số loại dược phẩm khác như thuốc ức chế bơm proton (Prilosec, Prevacid, Protonix, Aciphex) được sử dụng trong điều trị trào ngược acid hoặc loét tá tràng có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu Calci carbonat. Trong những trường hợp này nên dùng Caxi citrat.

Nhiều chế phẩm Calcium carbonate thiên nhiên, như oystershell hoặc tủy xương có thể có nồng độ Pb cao và không nên sử dụng.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết