Nguy cơ gãy xương ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh

(DTD) – Loãng xương (LX) là một căn bệnh thầm lặng, đang trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu và là gánh nặng cho ngân sách y tế của tất cả các quốc gia. Ước tính hiện nay có 200 triệu người bị LX trên thế giới.

 

Đây là tình trạng bệnh của toàn khung xương, xương giảm khối lượng và hư hỏng vi cấu trúc, gây hậu quả yếu xương và gãy xương (GX). Với những trường hợp LX nặng, nguy cơ GX tái phát rất cao, cần phải được tư vấn và điều trị tích cực với thuốc chống LX.

Nhận dạng nguy cơ gãy xương

Từ độ tuổi 60 trở đi, 50% phụ nữ sẽ có nguy cơ bị GX trong suốt phần đời còn lại của mình. Ngày nay tuổi thọ gia tăng, số người cao tuổi đối diện với nguy cơ GX càng nhiều. Trong các vị trí GX, nghiêm trọng nhất là GX hông, gián tiếp làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh khác, tăng đột biến tỷ lệ tử vong.

Nguy cơ gãy xương ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh

Loãng xương làm tăng nguy cơ gãy xương

Có nhiều yếu tố liên quan đến GX mà quan trọng nhất là mật độ xương. Theo cách đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, bình thường T score (T score là chỉ số lệch của bệnh nhân so với chỉ số chuẩn của người trẻ) > -1; mật độ xương thấp khi chỉ số này từ -2,5 đến -1; nếu T score < -2,5 là LX. Người có mật độ xương thấp gặp nguy cơ GX cao hơn người có mật độ xương cao nhưng vẫn có những người không nhất thiết phải có mật độ xương thấp mới có GX, còn những yếu tố khác làm tăng nguy cơ GX như té ngã, sử dụng những thuốc làm tổn hại đến sự chuyển hóa của xương. Thay vì chỉ dựa vào chẩn đoán có hay không bị LX để điều trị, ngày nay y học hướng đến điều trị dự phòng, nghĩa là tiên liệu nguy cơ GX và điều trị dựa vào mức độ nguy cơ này.

Làm sao để nhận dạng người có nguy cơ GX cao để điều trị dự phòng nhằm giảm tỷ lệ GX? Có nhiều mô hình tiên đoán GX, trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi xin giới thiệu mô hình tiên đoán GX của giáo sư NGUYỄN và cộng sự (GS Nguyễn Văn Tuấn, Đại học Garvan, Úc). Mô hình NGUYỄN sử dụng năm yếu tố nguy cơ để tiên đoán GX trong 5 và 10 năm sau là giới tính, tuổi, tiền sử GX, mật độ xương và số lần té ngã trong 12 tháng qua. Ưu điểm của mô hình là giúp bác sĩ và bệnh nhân có thể tự đánh giá xác suất bị GX của từng đối tượng dựa trên những đặc tính của mỗi cá nhân. Từ đó, giúp can thiệp đúng đối tượng và tư vấn thích hợp.

Mô hình NGUYỄN có thể tìm thấy trên trang web www.fractureriskcalculator.com. Nhập các dữ liệu theo năm yếu tố nguy cơ, mô hình tự động tính ra nguy cơ GX trong 5 và 10 năm sau. Thí dụ, một bệnh nhân nữ 78 tuổi bị đau nhức hông đùi bên trái kéo dài, từng bị gãy cổ tay phải cách đây hai năm; hình ảnh Xquang cho thấy tình trạng LX nặng, không bị GX hay hoại tử xương khu trú. Đo mật độ xương, chỉ số T score là -3. Theo mô hình NGUYỄN, nguy cơ GX hông của bà sau 5 năm là 14,1%, sau 10 năm 26,2%; nguy cơ GX bất kỳ là 26,5% sau 5 năm, 48,3% sau 10 năm. Đây là những con số vượt xa mức nguy cơ phải điều trị.

Điều trị loãng xương sau mãn kinh

Việc điều trị luôn kết hợp nhiều phương cách.

Dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý: tránh để người bệnh suy dinh dưỡng. Ngoài thịt cá, rau củ quả cũng là nguồn cung cấp nhiều chất khoáng cần thiết cho xương.

Tập luyện, phòng ngừa té ngã: người lớn tuổi, nếu thường xuyên vận động, nguy cơ té ngã sẽ giảm rõ rệt. Phòng tránh té ngã là điều hết sức quan trọng. Những bài tập thế cân bằng và luyện tập dùng sức sẽ giúp giảm nguy cơ té ngã ở người già. Lưu ý việc luyện tập phải phù hợp với tình trạng sức khỏe của cá nhân.

Canxi và vitamine D: ghi nhận của tạp chí Nội Khoa Hoa Kỳ năm 2006 cho thấy, 58% người châu Âu, 71% người châu Á và 83% người châu Mỹ Latin thiếu hụt vitamine D. Do vậy, trong điều trị LX, việc bù đủ canxi và vitamine D là cần thiết. Để duy trì mật độ khoáng xương, cần uống canxi (1200mg/ngày) và vitamine D (800UI/ngày). Chỉ với canxi và vitamine D có thể giảm 12% gãy xương ở phụ nữ sau tuổi 50.

Thuốc chống LX: khi T score < -2,5 và hoặc GX là có chỉ định dùng thuốc chống LX. Loại được dùng nhiều hiện nay là nhóm biphosphonates – tên thương mại là Fosamax (alendronate), Actonel (risedronate). Tác dụng cải thiện xương của alendronate kéo dài trong 10 năm. Khi dùng alendronate, người bệnh cần được hướng dẫn cách uống để tránh tác dụng phụ của thuốc.

(*) Bệnh viện Chợ Rẫy

Theo Phụ nữ Online

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Cột sống
Phòng khám Cột sống | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết