Điều trị loãng xương

Vitamin D

Một chế độ ăn đủ calci và đủ lượng vitamin D dự trữ trong cơ thể là hai cơ sở quan trọng duy trì sự cứng cáp và đậm độ xương. Tuy nhiên, điều trị loãng xương với vitamin D hay calcium đơn độc thì không đủ. Chúng chỉ dùng hỗ trợ với các điều trị khác. Vitamin D có một vài tầm quan trọng:

Giúp hấp thu calcium từ ruột.

Thiếu vitamin D gây ra nhuyễn xương khiến xương bị yếu và dễ gãy hơn.

Trong trường hợp có đầy đủ calcium (1200mg calcium cơ bản), một số nghiên cứu cho thấy vitamin D làm tăng đậm độ xương và giảm khả năng gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh ngoại trừ phụ nữ tiền mãn kinh.

Hơn nữa, ở bệnh nhân thiếu vitamin D thì tình trạng viêm xương khớp của đầu gối (viêm thoái hóa khớp) dường như nặng hơn bình thường. Tăng khẩu phần ăn có chứa vitamin D và tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời có thể giúp ích cho những người bị viêm xương khớp có dự trữ vitamin D tương đối thấp.

Vitamin D có trong thức ăn và ở da. Việc sản xuất vitamin D từ da phụ thuộc vào việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Những người sống ở các vùng có nhiều ánh nắng mặt trời như các quốc gia quanh vùng xích đạo…có lượng vitamin D đáp ứng nhu cầu cơ thể chủ yếu lấy từ da.  

Ngược lại, việc ít tiếp xúc với tia nắng mặt trời do sinh sống ở các vùng phía bắc hay do mất khả năng lao động gây ra tình trạng thiếu vitamin D. Đối với những vùng thiếu ánh nắng, việc sản xuất vitamin D từ da giảm rõ rệt vào mùa đông đặc biệt là ở những người lớn tuổi. Trong những cộng đồng như vậy thì vitamin D trong khẩu phần ăn đóng vai trò quan trọng.

Tình trạng thiếu vitamin D khá phổ biến ở các nước ôn đới. Một nghiên cứu trên các bệnh nhân nhập viện trong khoa nội tổng quát cho thấy có tới 57% trường hợp bị thiếu vitamin D. Ước lượng có khoảng 50% các cụ bà ăn thiếu vitamin D rất nhiều so với nhu cầu .

Bảng dinh dưỡng sau đề nghị một chế độ ăn vitamin đầy đủ: 200 đơn vị một ngày đối với cả hai giới từ 19 đến 50 tuổi; 400 đơn vị một ngày đối với người từ 51 đến 70 tuổi và 600 đơn vị một ngày cho người trên 71 tuổi.

Một viên multivitamin trung bình chứa 400 đơn vị vitamin D. Do vậy dùng một hoặc hai viên một ngày có thể đáp ứng được nhu cầu của cơ thể. Có một cách khác để bổ sung vitamin D là dùng thuốc có chứa cả vitamin D và calcium như Caltrate 600+D (600 mg calcium và 200 đơn vị vitamin D) và các loại khác.

Sử dụng kéo dài quá nhiều vitamin D đặc biệt là trên 2000 đơn vị một ngày có thể dẫn tới ngộ độc vitamin D, tăng nồng độ calcium trong máu và nước tiểu dẫn đến sỏi thận. Điều quan trọng là phải tính lại lượng vitamin D trong các chế độ ăn bổ sung trước khi uống vitamin D do chúng cũng có thể chứa sẵn một lượng vitamin D.

Liệu pháp thay thế Estrogen.

Liệu pháp điều trị thay thế  bằng hormon Estrogen đã và đang cho thấy có tác dụng ngăn ngừa được sự mất xương, gãy xương và làm tăng đậm độ xương. Phương pháp này có giá trị cả trong phòng ngừa lẫn điều trị loãng xương trên phụ nữ sau mãn kinh. Estrogen có sẵn dưới dạng uống (Premarin, Estrace, Estratest…) hay dưới dạng dán da (Estraderm, Vivelle…).

Estrogen cũng có thể kết hợp với progesterone dưới dạng thuốc viên hay miếng dán. Progesterone thường được dùng chung với estrogen là vì việc dùng estrogen đơn độc có thể gây ung thư tử cung. Những dạng sử dụng khác cũng đang được nghiên cứu là estrogen xịt qua đường mũi và thuốc viên chứa hỗn hợp estrogen-progesterone liều thấp.

Liệu pháp thay thế Estrogen thường an toàn và dung nạp tốt. Hiện tại thì người ta vẫn đang nghiên cứu và tranh cãi về các nguy cơ của việc sử dụng Estrogen như ung thư vú, đột quị, tắc mạch máu ở chân. Vì vậy mọi phụ nữ khi điều trị thay thế estrogen cần phải trao đổi với bác sĩ riêng vì liệu pháp này có nguy cơ và lợi điểm khác nhau trên mỗi người sử dụng.

Các thuốc ngừa mất và gãy xương.

Hiện nay, các thuốc chính yếu nhất trong điều trị loãng xương và những thuốc duy nhất được FDA cho phép lưu hành ở Hoa Kỳ là các loại chống hủy xương có tác dụng ngăn ngừa gãy xương. Xương là một cấu trúc động bao gồm quá trình hủy và tái tạo xương liên tục. Quá trình này là cần thiết cho việc duy trì nồng độ calcium bình thường trong máu. Khi tốc độ phá hủy vượt quá mức tái tạo thì sẽ gây ra loãng xương.

Các thuốc chống hủy xương ức chế quá trình hủy xương và do đó dịch chuyển sự thăng bằng về phía tái tạo xương và tăng đậm độ xương. Điều trị thay thế bằng Estrogen là một thí dụ về thuốc chống hủy xương. Các thuốc khác bao gồm alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel), raloxifene (Evista) và calcitonin (Calcimar).

Alendronate (Fosamax) là thuốc chống hủy xương biphosphonate. Alendronate đã được chứng minh là có tác dụng ngăn chặn và điều trị loãng xương sau mãn kinh cũng như loãng xương do dùng thuốc có cortisone (loãng xương do glucocorticoid). Alendronate cho thấy làm tăng đậm độ xương và giảm khả năng gãy xương cột sống, xương chậu và xương cánh tay.

Thêm vào đó, một thời gian biểu mới cho việc sử dụng alendronate liều duy nhất trong mỗi tuần đang được chứng minh là phòng ngừa và chữa trị được loãng xương sau mãn kinh. Alendronate cũng là thuốc điều trị loãng xương đầu tiên được công nhận là làm tăng đậm độ xương ở người đàn ông bị loãng xương với liều mỗi ngày hay mỗi tuần.

Nhìn chung Alendronate được dung nạp tốt và ít tác dụng phụ. Một tác dụng phụ của thuốc là kích thích thực quản (ống nối giữa miệng và dạ dày). Thỉnh thoảng có một số báo cáo gặp hiện tượng viêm, loét thực quản khi sử dụng thuốc.

Để làm giảm tác dụng phụ và tăng độ hấp thu của thuốc, nên dùng alendronate vào buổi sáng, khi dạ dày còn trống (khoảng 30 phút trước bữa ăn sáng) cùng với uống ít nhất 240ml nước. Uống thuốc khi đứng hay ngồi làm giảm tối thiểu khả năng thuốc bị kẹt trong thực quản. Để tránh thuốc trào ngược trở lại thực quản, bệnh nhân nên tiếp tục giữ tư thế trên trong vòng 30 phút sau khi uống.

Risedronate(Actonel)là một thuốc chống huỷ xương biphosphonate khác. Giống như Alendronate, thuốc cũng có tác dụng phòng ngừa và điều trị loãng xương sau mãn kinh cũng như loãng xương do glucocorticoid. Về bản chất hoá học thì Risedronate khác với Alendronate và có vẻ ít gây kích thích thực quản hơn. Thuốc cũng có khả năng ngừa hủy xương tốt hơn Alendronate.

Thức ăn, calcium, sắt, vitamin và chất khoáng hoặc thuốc kháng acid chứa calcium, magnesium hay aluminum có thể làm giảm hấp thu risedronate do đó gây mất tác dụng của thuốc. Vì vậy, nên uống resedronate với nước lọc trước lúc ăn sáng và cũng không nên ăn uống trong vòng ít nhất 30 phút sau đó.

Raloxifene (Evista) thuộc nhóm thuốc mới có tên gọi là thuốc điều hòa thụ thể estrogen có chọn lọc (SERMs). SERMs có hoạt động tương tự như estrogen ở một số loại mô trong khi ở một số loại mô khác thì nó không có tác dụng. Các thuốc SERM mang các lợi điểm cũng như khắc phục được các tác dụng phụ của estrogen. Do đó, trên xương thì thuốc hoạt động giống estrogen còn tại lớp niêm mạc của tử cung thì thuốc không có tác dụng.

Tamoxifen là thuốc đầu tiên thuốc nhóm SERM được đưa vào thị trường ức chế tác dụng kích thích của estrogen trên mô tuyến vú. Tamoxifen đang được chứng minh là có giá trị ngăn ngừa ung thư vú thứ hai trên người phụ nữ bị ung thư vú một bên. Raloxifene là thuốc SERM thứ hai được FDA cấp phép lưu hành. Thuốc cũng đang được chứng minh là có tác dụng ngăn ngừa và điều trị loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh.

Buồn nôn và đỏ bừng mặt là hai tác dụng phụ thường gặp khi dùng calcitonin ở dạng chích hay xịt qua đường mũi. Những bệnh nhân dùng thuốc xịt qua đường mũi Miacalcin thường bị viêm mũi do kích thích, chảy nước mũi hay chảy máu mũi. Calcitonin dạng tiêm có thể gây ra đỏ vùng da bị chích, nổi ban và đỏ bừng mặt.

Thuốc duy nhất kích thích tạo xương là fluoride trong khi các thuốc trị loãng xương khác chỉ cải thiện đậm độ xương bằng cách ức chế quá trình hủy xương.

Tuy nhiên, xương hình thành do sự kích thích của fluoride dường như yếu và dễ gãy hơn các xương bình thường. Fluoride đang được cải tiến để đảm bảo làm giảm xuất độ gãy xương. Fluoride cũng thường gây ra các tác dụng phụ như rối loạn tiêu hóa, đau các khớp và chi dưới. Ở Hoa Kỳ, thuốc chưa được FDA công nhận trong điều trị loãng xương.

Cho dù có một nghiên cứu gần đây cho rằng sử dụng liều thấp fluoride pha chế phóng thích chậm làm thuốc dung nạp tốt và hiệu quả hơn trong quá trình tạo xương (nghĩa là xương chắc hơn), giảm khả năng gãy xương cột sống thì vẫn chưa có dữ liệu đầy đủ đề nghị sử dụng fluoride trong điều trị loãng xương.

Theo bacsigiadinh.vn

 

(Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !
Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

Có thể bạn quan tâm