Điều trị đau .com
  • Nơi cung cấp thông tin về Đau và Điều trị đau !
0124 589 8686

Giãn tĩnh mạch

Bình thường máu tĩnh mạch chảy về tim với một vận tốc hằng định, được trợ giúp bởi sự co cơ và các van tĩnh mạch. Van tĩnh mạch hoạt động như cánh cổng một chiều ngăn không cho dòng máu chảy ngược trở lại dưới tác động của trọng lực. Tuy nhiên, khi dòng máu lưu chuyển quá chậm hoặc van bị tổn thương hay viêm nhiễm, các tĩnh mạch đặc biệt là tĩnh mạch nông ở chân sẽ giãn căng ra và xoắn lại thành từng búi. Những người đứng lâu có nguy cơ cao bị giãn tĩnh mạch. Phụ nữ có thể bị giãn tĩnh mạch khi mang thai do sự đè ép của tử cung lên các tĩnh mạch trong ổ bụng. Măt khác, biến đổi về hormon khi mang thai cũng làm các tĩnh mạch bị giãn và suy yếu.

Giãn tĩnh mạch đôi khi gây đau và dị cảm ở da nhưng thường không có triệu chứng. Tuy nhiên các búi giãn được cho là gây mất thẩm mĩ. Giãn tĩnh mạch có thể được xử trí ngoại khoa thông qua thủ thuật Stripping (thắt và bóc tách tĩnh mạch) hoặc bằng phương pháp tiêm chất gây xơ. Người bị giãn tĩnh mạch cần duy trì cân nặng hợp lý, tránh béo phì nhằm giảm áp lực tĩnh mạch và tránh đứng lâu. Băng ép có tác dụng nhưng không nên quá chặt gây cản trở tuần hoàn. Nhìn chung, giãn tĩnh mạch không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ngoại trừ khía cạnh thẩm mĩ.

Nghẽn mạch phổi

Huyết khối tĩnh mạch có vị trí càng gần quả tim thì nguy cơ gây nghẽn mạch phổi càng lớn. Nghẽn mạch phổi có thể gây chết người và là một trong những nguyên nhân đột tử khó xác định nhất. Một số trường hợp nghẽn mạch phổi nhẹ không gây triệu chứng, tuy nhiên các biểu hiện thường gặp là: đau ngực tăng lên khi hít vào, tiếng cọ màng phổi, khó thở và ho ra máu.

Bệnh động mạch ngoại biên

Quá trình xơ mỡ xảy ra ở động mạch ngoại biên cũng tương tự như ở động mạch vành: các hạt mỡ xâm nhập gây thương tổn thành mạch và hình thành mảng xơ mỡ. Lòng mạch sẽ bị hẹp lại, đôi khi tắc hoàn toàn do cục máu đông hình thành trên mảng xơ mỡ gây nên tình trạng thiếu máu cục bộ. Các yếu tố nguy cơ của hẹp, tắc động mạch ngoại biên cũng tương tự như đối với động mạch vành, bao gồm: tăng cholesterol máu, đái tháo đường, thuốc lá và tăng huyết áp. Trong đó, thuốc lá là yếu tố nguy cơ đặc biệt quan trọng của bệnh động mạch ngoại biên.

Triệu chứng kinh điển của bệnh mạch ngoại biên là chứng đau cách hồi ở chân, đau tăng lên khi đi nhanh hoặc leo dốc và giảm hoặc hết khi nghỉ ngơi. Nguyên nhân của đau là do thiếu máu cục bộ các bắp cơ ở chân khi vận động. Đau cách hồi ở chân cũng có thể xuất hiện khi gặp lạnh hay khi sử dụng một số thuốc như chẹn bêta giao cảm (thuốc gây co thắt mạch làm nặng thêm tình trạng thiếu máu ngoại biên).

Khi động mạch bị hẹp nhiều hoặc tắc hoàn toàn, đau vùng ngoại biên xuất hiện liên tục ngay cả khi nghỉ ngơi. Lúc này các ngón chân trở nên nhợt, biến đổi màu sắc hoặc tím (đặc biệt khi chân để thõng). Bàn chân lạnh, mạch mu chân yếu hoặc không bắt được. Nặng hơn, vùng chi thiếu máu bắt đầu bị loét. Nặng hơn nữa, hoại tử xuất hiện buộc phải cắt cụt ngón chân hoặc bàn chân. Tuy nhiên, những trường hợp nặng như vậy hiếm gặp.

Chẩn đoán và điều trị

Nhiều bệnh lý về cơ, xương, khớp và bệnh lý ở vùng thắt lưng có thể gây triệu chứng đau chân khi vận động. Tuy nhiên, trong bệnh động mạch ngoại biên, sự hiện hữu của các triệu chứng kinh điển: đau vùng đùi hoặc cẳng chân khi vận động và giảm hoặc hết khi nghỉ; yếu hay mất mạch ở chân là đủ để chẩn đoán trong phần lớn các trường hợp.

Hiện tượng rụng lông ở chân cũng gợi ý tình trạng thiếu máu mạn tính. Đo huyết áp ở kheo hoặc vị trí khác có thể giúp xác định tình trạng tưới máu ở chân. Chẩn đoán có thể dựa vào các thăm dò như siêu âm Doppler (cho phép thấy được dòng chảy trong mạch máu), chụp cộng hưởng từ (giúp xác định vị trí động mạch bị tắc) hoặc quan trọng nhất - chụp động mạch cản quang. Các thăm dò này khá đắt tiền và không nhất thiết phải tiến hành cho mọi đối tượng. Chụp mạch thường chỉ được thực hiện trong những trường hợp nặng, giúp cho việc xác định phương pháp điều trị tối ưu.

Người ta ước tính, khoảng 80 – 90% trường hợp bệnh động mạch ngoại biên ổn định hoặc tiến triển tốt theo thời gian; 10 – 15% cần được can thiệp mạch và ít hơn 3 – 5% đòi hỏi phải cắt cụt chi. Điều trị cần bắt đầu bằng các phương pháp bảo tồn trước khi cân nhắc đến các thủ thuật xâm nhập.

Nguồn Suckhoedoisong.vn

Bạn đánh giá: 0 / 5

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Một số vấn đề cơ bản về bệnh loãng xương

11-12-2017 Hits:254 Loãng xương DrBlack

Loãng xương là một chuyên ngành còn rất mới, ban đầu được cho là một bệnh thứ yếu. Song khi nghiên cứu sâu về Loãng xương cho thấy tỷ lệ lưu hành, tỷ lệ biến chứng gãy xương và tỷ lệ tử vong do biến chứng gãy xương ngày một tăng, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh. Do vậy ngày nay Loãng xương đã trở thành một chuyên ngành nghiên cứu sâu về cấu trúc, chức năng và bệnh lý nguyên phát của xương.  Các khía cạnh được đề cập đến trong bài viết này bao gồm: 1. Chẩn đoán...

Read more

Viết bình luận