Điều trị đau .com
  • Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội
0124 589 8686

(ĐTĐ) - Ngựa tên khác ngựa nhà. Tên khoa học: Equus coballus L. Loại ngựa bạch thích hợp dùng để làm thuốc. Thịt ngựa chứa 21,5% protid, 5 - 7% lipid, có các muối khoáng và vitamin. Sữa ngựa chứa 2,1% protid, cao hơn sữa người; 1,1% lipid và các vitamin C, A; muối khoáng và các nguyên tố vi lượng. Xương ngựa chứa calci phosphat, keratin, oscein..
 

Theo Đông y, thịt ngựa (mã nhục), xương ngựa (mã cốt), sữa ngựa (mã nhũ), phân ngựa (mã phẩn), răng ngựa (mã xỉ), sỏi trong dạ dày hay túi mật ngựa (mã bảo). Ngoài ra, dương vật (bạch mã âm kinh), gan, phổi và máu ngựa cũng được sử dụng làm thuốc.

Mã nhục (thịt ngựa): vị ngọt đắng, tính nóng, có độc; có tác dụng lớn gân, mạnh xương. Chữa gân xương yếu, chứng xương cốt yếu liệt, tê bại và nhiệt khí, tiêu hóa kém, chốc lở và rụng tóc. Ăn thịt ngựa, trẻ em cứng cáp, nhanh nhẹn; thanh niên vạm vỡ cường tráng; người già không bị đau nhức xương và sống lâu. Có thể chế biến thành những món ăn hợp khẩu vị theo lứa tuổi.

Không dùng thịt ngựa cho người bị hạ lỵ; không nấu thịt ngựa với ké đầu ngựa (thương nhĩ tử), hoặc với gừng.

Mã nhũ (sữa ngựa): vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ huyết, nhuận táo, thanh nhiệt, chỉ khát. Chữa huyết hư, phiền nhiệt, cốt chưng, chỉ khát. Sữa ngựa được dùng theo nhiều cách: sữa tươi, sữa chua, rượu sữa. Sữa tươi thêm ít đường cho đủ ngọt, đun sôi, uống trong ngày, là thuốc bổ sinh huyết, dễ tiêu, chữa ho, phổi ráo dùng cho người bị lao phổi hoặc mắc bệnh mạn tính. Sữa ngựa chua là nước giải khát tăng lực, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, góp phần làm hưng phấn thần kinh khi mệt mỏi, chữa các bệnh về hô hấp, tiêu hóa, sinh dục và nhiều loại bệnh ngoài da. Ở Mông Cổ, có một tập quán lâu đời về chế rượu sữa ngựa như người Việt Nam chế rượu nếp cái bằng men thuốc. Rượu sữa ngựa có nồng độ cồn thấp, dùng để bồi dưỡng, làm giảm béo, chữa thiếu máu và phục hồi sức khỏe với người bị lao phổi.

Mã cốt (xương ngựa): vị ngọt, tính lương, có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân xương. Thường dùng dưới dạng cao - cao ngựa bạch: phục hồi sức khỏe với người mới ốm dậy, phụ nữ sau sinh, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, trẻ em còi xương xanh xao biếng ăn. Không dùng rượu cao ngựa cho trẻ em; khi dùng kiêng các chất tanh: tôm, cua, cá, chất cay: tỏi, ớt, hạt tiêu, nước chè đặc, đậu xanh, rau muống.

Bạch mã âm kinh (dương vật ngựa): vị ngọt mặn, tính ôn; tác dụng bổ thận ích khí. Dùng cho người suy nhược gầy gò, ốm yếu, liệt dương, tinh suy. Kết hợp với nhục thung dung, liều lượng bằng nhau, tán bột mịn, trộn với mật ong làm hoàn; ngày uống 6g trước bữa ăn để trị liệt dương. Không dùng cho người âm hư hỏa vượng.

Mã bảo (sỏi trong dạ dày hay túi mật ngựa): vị mặn, tính lạnh; có tác dụng trấn kinh hóa đờm, thanh nhiệt giải độc. Trị các chứng kinh giản điên cuồng, đàm nhiệt nội thịnh, thần trí hôn mê, nôn ra máu, chảy máu cam, mất ngủ do thần kinh, ho do co thắt.

Nguồn Suckhoedoisong.vn 

Bạn đánh giá: 0 / 5

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Hình ảnh MRI chấn thương khớp vai

12-07-2018 Hits:648 Chẩn đoán cận lâm sàng BS. Mai Trung Dũng

I. Đại Cương – Khớp vai là khớp quan trọng trong vận động. Khả năng chuyển động của khớp vai lớn hơn các khớp khác. Tuy nhiên, khớp vai không vững chắc so với các khớp khác do bề mặt của ổ chảo nhỏ và nông so với chỏm xương cánh tay. Khớp vai liên quan nhiều cấu trúc xương và phần mềm quanh khớp. Các thay đổi giải phẫu hay bệnh lý các cấu trúc này ảnh hưởng vận động khớp. II. Chẩn Đoán MRI 1. Rách chóp xoay (Rotato cuff tear) – Chóp xoay gồm 4 cơ và gân cơ: + Rách gân cơ trên...

Read more

Viết bình luận