Phong bế thần kinh liên sườn

1. Chỉ định.

Phong bế thần kinh liên sườn được sử dụng để điều trị đau sau herpes zoster, gãy xương sườn, bệnh thần kinh liên sườn. Nó cũng được dùng để chẩn đoán đau bất thường ở thành bụng và thành ngực.

2. Đặc điểm giải phẫu.

Có 12 đôi dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh liên sườn được tạo bởi ngành trước của các dây thần kinh sống lưng. Dây đi ra trước cùng với động tĩnh mạch liên sườn trong rãnh dưới sườn. Dây thần kinh liên sườn tách ra các ngành bên: vận động các cơ thành ngực, và cảm giác da thành ngực trước bên, cho xương sườn, cốt mạc và phế mạc thành. Đặc biệt 6 đôi dây thần kinh liên sườn dưới còn tách ra các nhánh vận động cơ hoành, đi xuống cảm giác da bụng và vận động các cơ thành bụng trước bên.

Phong bế thần kinh liên sườn là phương pháp đơn giản và hiệu quả cho điều trị các chứng đau của thành ngực và thành bụng. Bởi vì sự phân bố rộng lớn của thần kinh liên sườn, nên những xương sườn phía trên và phía dưới của vùng đau đều phải được phong bế để đạt được sự giảm đau tối ưu.

3. Kỹ thuật.

– Bệnh nhân ở tư thế nằm sấp hoặc nằm nghiêng tùy thuộc vị trí tiêm. Trong trường hợp nằm nghiêng vị trí tiêm thì dọc theo đường giữa nách và có thể gây nên sự phong bế không hoàn toàn của nhánh da bên của thần kinh liên sườn. ở tư thế nằm sấp thì vị trí tiêm dọc theo góc sườn sau. Đánh dấu những xương sườn tiêm ở góc sườn sau hoặc dọc theo đường nách giữa.

Phong bế thần kinh liên sườn

Hình 3.5. Phong bế thần kinh liên sườn

– Dùng ngón tay trỏ của bàn tay không thuận sờ lên xương sườn và xác định khoang gian sườn, đầu ngón tay đặt lên khoang gian sườn và da trượt trên xương sườn phía trên. Chuẩn bị bệnh nhân bằng kiểu vô trùng tiêu chuẩn, dùng kim dài 1,5cm 25-gauge xuyên thẳng lên trên xương sườn cho đến khi chạm vào xương. Trục dài của kim và bơm tiêm nghiêng nhẹ về phía đầu và vuông góc với trục dài của xương sườn. Sau đó mũi kim được dịch chuyển đến cạnh dưới của xương sườn rồi tiến kim thêm 3mm. Tiến hành hút bơm tiêm để chắc chắn kim không nằm trong mạch máu và màng phổi, rồi bơm 2-2,5ml thuốc tê cục bộ để phong bế thần kinh liên sườn (Hình 3.5).

4. Biến chứng.

Xuyên kim vào phổi và gây tràn khí màng phổi là biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. Để tránh chọc kim vào màng phổi, cần thiết phải tiến hành động tác hút bơm tiêm thường xuyên để phát hiện khí vào bơm tiêm.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết