Điều trị đau .com
  • Nơi cung cấp thông tin về Đau và Điều trị đau !
0124 589 8686

1. Chỉ định.

Đuôi ngựa gần giống như khoang ngoài màng cứng được dùng để điều trị đau ở vùng lưng thấp và khung chậu.

2. Đặc điểm giải phẫu.

Màng cứng đến ngang mức đốt sống cùng 2 thì thót lại thành một túi bịt bọc lấy đuôi ngựa, sau đó bọc dây cùng trong ống cùng đến tận xương cụt. ống cùng ở trong xương cùng tiếp nối với ống sống, ống cùng không khép kín mà mở ra lỗ dưới ở khe cùng. Phía dưới mặt sau của xương cùng có mào cùng tỏa ra thành hai ngành bên (sừng cùng) như hình chữ V ngược có thể sờ thấy dưới da, giữa hai sừng cùng là khe cùng, tại đỉnh của chữ V (góc cùng) là lỗ dưới của ống cùng, qua lỗ này để gây tê hốc xương cùng. Khi chọc hốc xương cùng qua lỗ này phải đi qua da và tổ chức dưới da rồi qua dây chằng cùng cụt.

3. Kỹ thuật.

- Bệnh nhân có thể ở nhiều tư thế sao cho thoải mái, trong đó tư thế hay dùng là tư thế nghiêng bên của Sim với bên trái ở phía dưới nếu thầy thuốc thuận tay phải, chân dưới co để 2 mông tách nhau ra cho phép lối vào dễ dàng ở chỗ tiếp nối giữa xương cùng và xương cụt.

Xác định mốc tiêm hốc xương cùngHướng chọc kim tiêm hốc xương cùng

Mốc và hướng chọc kim tiêm hốc xương cùng

- Bệnh nhân được vô trùng cẩn thận trên diện rộng cho phép sờ được các mốc giải phẫu. Thầy thuốc dùng đầu ngón tay sờ vào xương cụt rồi di chuyển dọc đường giữa về phía đầu khoảng 4-5cm ở người lớn, đến khi đầu ngón tay chạm vào chỗ đứt quãng của xương cùng với góc xương cùng được sờ ở mỗi cạnh (sừng cùng). Tay sờ vẫn giữ nguyên vị trí, tay kia cầm kim (5cm 18-gauge) xuyên vào tạo với xương cụt góc 1200. Sau khi cảm thấy một tiếng “bốp” như thể dây chằng cùng cụt bị xuyên thủng, thì hạ kim xuống thẳng với trục của ống tủy rồi xuyên thêm 1cm nữa. Khoang đuôi ngựa được xác định khi hút không thấy dịch não tủy (Hình 3.8).

Hình 3.8. Phong bế hốc xương cùng

- Sau đó tiêm vào 80-120mg methylprednisolon acetat hoặc 50mg triamcinolon diacetat. Những steroid có thể được pha cùng với 5-10ml nước muối sinh lý bảo quản.

4. Biến chứng.

- Vị trí kim không thích hợp có thể gây nên sự phong bế không đầy đủ, điều này là do sự phức tạp về giải phẫu và sự thiếu kinh nghiệm của thầy thuốc.

- Tiêm nhanh khối lượng lớn thuốc có thể nên tăng áp lực dịch não tủy, với nguy cơ chảy máu não, rối loạn thị giác, đau đầu hoặc làm tổn thương lưu thông của máu tủy sồng.

- Đau tại vị trí tiêm.

- Bí tiểu tiện có thể xảy ra nếu sử dụng thuốc tê cục bộ, và kéo dài cho đến khi hết tác dụng của thuốc. 

Bạn đánh giá: 0 / 5

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Phục hồi chức năng hô hấp cho người bệnh có di chứng lao phổi

26-12-2017 Hits:413 Phục hồi chức năng Hô hấp PGS.TS. Nguyễn Viết Nhung

Lao phổi là bệnh lý làm tổn thương và hủy hoại nhu mô phổi, do xơ hóa kết hợp với tình trạng tắc nghẽn làm giảm chức năng hô hấp mạn tính, lâu dần có thể thể dẫn tới hậu quả là mất sức lao động. Gánh nặng bệnh tật do những di chứng của bệnh lao để lại ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của người bệnh là có những triệu chứng hô hấp như ho, khạc đờm, khó thở tăng dần và tâm lý...

Read more

Viết bình luận