Tiêm đuôi ngựa qua hốc xương cùng

1. Chỉ định.

Đuôi ngựa gần giống như khoang ngoài màng cứng được dùng để điều trị đau ở vùng lưng thấp và khung chậu.

2. Đặc điểm giải phẫu.

Màng cứng đến ngang mức đốt sống cùng 2 thì thót lại thành một túi bịt bọc lấy đuôi ngựa, sau đó bọc dây cùng trong ống cùng đến tận xương cụt. ống cùng ở trong xương cùng tiếp nối với ống sống, ống cùng không khép kín mà mở ra lỗ dưới ở khe cùng. Phía dưới mặt sau của xương cùng có mào cùng tỏa ra thành hai ngành bên (sừng cùng) như hình chữ V ngược có thể sờ thấy dưới da, giữa hai sừng cùng là khe cùng, tại đỉnh của chữ V (góc cùng) là lỗ dưới của ống cùng, qua lỗ này để gây tê hốc xương cùng. Khi chọc hốc xương cùng qua lỗ này phải đi qua da và tổ chức dưới da rồi qua dây chằng cùng cụt.

3. Kỹ thuật.

– Bệnh nhân có thể ở nhiều tư thế sao cho thoải mái, trong đó tư thế hay dùng là tư thế nghiêng bên của Sim với bên trái ở phía dưới nếu thầy thuốc thuận tay phải, chân dưới co để 2 mông tách nhau ra cho phép lối vào dễ dàng ở chỗ tiếp nối giữa xương cùng và xương cụt.

Tiêm đuôi ngựa qua hốc xương cùngTiêm đuôi ngựa qua hốc xương cùng

Mốc và hướng chọc kim tiêm hốc xương cùng

– Bệnh nhân được vô trùng cẩn thận trên diện rộng cho phép sờ được các mốc giải phẫu. Thầy thuốc dùng đầu ngón tay sờ vào xương cụt rồi di chuyển dọc đường giữa về phía đầu khoảng 4-5cm ở người lớn, đến khi đầu ngón tay chạm vào chỗ đứt quãng của xương cùng với góc xương cùng được sờ ở mỗi cạnh (sừng cùng). Tay sờ vẫn giữ nguyên vị trí, tay kia cầm kim (5cm 18-gauge) xuyên vào tạo với xương cụt góc 1200. Sau khi cảm thấy một tiếng “bốp” như thể dây chằng cùng cụt bị xuyên thủng, thì hạ kim xuống thẳng với trục của ống tủy rồi xuyên thêm 1cm nữa. Khoang đuôi ngựa được xác định khi hút không thấy dịch não tủy (Hình 3.8).

Tiêm đuôi ngựa qua hốc xương cùng

Hình 3.8. Phong bế hốc xương cùng

– Sau đó tiêm vào 80-120mg methylprednisolon acetat hoặc 50mg triamcinolon diacetat. Những steroid có thể được pha cùng với 5-10ml nước muối sinh lý bảo quản.

4. Biến chứng.

– Vị trí kim không thích hợp có thể gây nên sự phong bế không đầy đủ, điều này là do sự phức tạp về giải phẫu và sự thiếu kinh nghiệm của thầy thuốc.

– Tiêm nhanh khối lượng lớn thuốc có thể nên tăng áp lực dịch não tủy, với nguy cơ chảy máu não, rối loạn thị giác, đau đầu hoặc làm tổn thương lưu thông của máu tủy sồng.

– Đau tại vị trí tiêm.

– Bí tiểu tiện có thể xảy ra nếu sử dụng thuốc tê cục bộ, và kéo dài cho đến khi hết tác dụng của thuốc. 

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết