Điều trị đau .com
084 589 8686

Chỉ mục bài viết

Thuốc phong bế dẫn truyền còn được gọi là Thuốc tê cục bộ là những thuốc với nồng độ thích hợp khi tiếp xúc với các sợi thần kinh ở mọi mức độ của hệ thần kinh thì phong bế sự dẫn truyền một cách đặc hiệu, tạm thời và có hồi phục, làm mất cảm giác (đau, nhiệt độ) của một vùng cơ thể, trong khi chức phận vận động không bị ảnh hưởng. Một thuốc tê tốt phải có các tiêu chuẩn sau đây:

- Ngăn cản hoàn toàn và đặc hiệu sự dẫn truyền cảm giác.

- Sau tác dụng của thuốc, chức phận thần kinh được phục hồi hoàn toàn.

- Thời gian khởi tê ngắn, thời gian tác dụng thích hợp (thường khoảng 60 phút).

- Không độc, không kích thích mô và không gây dị ứng.

- Tan trong nước, vững bền dưới dạng dung dịch, khử khuẩn xong vẫn còn hoạt tính.

I. Phân loại:

1. Nhóm esther:

Là ester của acid benzoic và acid para amino benzoic (PAB), gồm:

- Cocain là alkaloid của cây Erthroxylon coca.

- Novocain hay Procain.

- Dicain hay Tetracain, Pantocain.

2. Nhóm amid:

- Lidocain (Xycain, Lignocain).

- Cindcocain (Sovcain, Precain).

3. Amino alcoxy:

Pranocain.

4. Amino alkin xeton:

Diclonin.

II. Dược động học:

1. Nhóm ester:

Nhóm này bị thủy phân bởi men choliesterase giả để thành PAB và DEAE. PAB gây tác dụng dược lý của thuốc, còn DEAE liều cao gây tác dụng toàn thân của thuốc tê, ngoài ra thuốc tê còn tham gia phản ứng liên hợp với acid glucu axeto hóa.

Trong dịch não tủy không có men choliesterase giả nên thực tế không bị thủy phân, chỉ khi nào thuốc bị đào thải hết mới hết tác dụng, do đó tiêm thuốc tê vào dịch não tủy thời gian tác dụng kéo dài.

Thuốc thải trừ chủ yếu qua thận dưới dạng chuyển hóa: PAB 80% và DEAE 20%.

2. Nhóm amid:

Thuốc hấp thu qua các mạch máu tại chỗ đưa thuốc, ngoài ra còn hấp thu qua niêm mạc. Trong máu, lidocain gắn với hồng cầu và cả protein huyết tương rồi được phân bố đến các cơ quan trong cơ thể. Thuốc được chuyển hóa ở gan dưới tác dụng của các men mycrosom gan, thành sản phảm chuyển hóa rồi thải trừ qua thận.

III. Tác dụng dược lý và cơ chế:

1. Tác dụng tại chỗ:

- Tác dụng gây tê: với liều điều trị thuốc tác dụng đặc hiệu gây tê làm mất cảm giác theo thứ tự: cảm giác đau, lạnh, nóng, xúc giác nông rồi đến xúc giác sâu. Sự hồi phục cảm giác theo thứ tự ngược lại.

- Cơ chế tác dụng: bình thường trong điều kiện điện thế tĩnh phía ngoài màng [Na+] lớn hơn trong, còn [K+] trong màng lại lớn hơn bên ngoài. Vì [Na+] lớn hơn nhiều [K+] nên điện thế ngoài màng dương so với điện thế bên trong. Khi có kích thích, cơ chế bơm K+-Na+ hoạt động làm Na+ đi vào trong còn K+ đi ra ngoài, khi đó điện thế bên trong lại dương so với bên ngoài gây ra hiện tượng khử cực và tạo ra các xung động thần kinh.

Các thuốc tê gắn vào receptor trên màng làm ức chế cơ chế bơm K+-Na+ làm ngăn cản sự chịu kích thích và ngăn cản sự khử cực do đó không có sự dẫn truyền xung động.

- Đặc điểm tác dụng:

+ Tác dụng của thuốc tê liên quan đến phần base ở tổ chức. Phần base này lại phụ thuộc pK của thuốc và pH của tổ chức.

+ Tác dụng của thuốc tê liên quan đến loại sợi thần kinh: sợi nhỏ không myelin bị ức chế trước, sau đó đến sợi có myelin. Tác dụng này không phụ thuộc vào sợi cảm giác hay sợi vận động.

+ Tác dụng của thuốc liên quan đến sự phân bố mạch máu ở vùng định gây tê, và phụ thuộc phương pháp gây tê.

+ Adrenalin làm co mạch do đó khi dùng phối hợp với thuốc tê làm thuốc lâu hấp thu do đó tác dụng kéo dài hơn.

2. Tác dụng toàn thân:

2.1. Tác dụng trên thần kinh trung ương:

- Liều cao 100-800mg thuốc tê gây tác dụng ức chế thần kinh trung ương gây mất cảm giác về cân băng, hình khối...

- Liều rất cao 10-20g thuốc tê gây co giật, hưng phấn thần kinh trung ương nhưng ức chế trung khu hô hấp.

Ngoài ra Novocain liều cao còn gây ngủ.

Cơ chế: Thuốc tê ức chế các neurone đa sinap ở tủy sống từ đó ức chế hệ lưới rồi ức chế vỏ não.

Riêng Cocain có tác dụng hưng phấn thần kinh trung ương, gây khoái cảm và gây nghiện.

2.2. Trên hệ tim mạch:

- Trên tim: thuốc tê ức chế dẫn truyền xung động ở các nút và bản thân cơ tim do đó có tác dụng chống loạn nhịp tim (tác dụng nhanh, thời gian ngắn, dễ gây độc).

- Trên mạch: các thuốc tê có tác dụng chống co thắt mạch do ngăn cản dẫn truyền xung động thần kinh đến cơ trơn thành mạch. Giảm kích thích đối với chất trung gian hóa học, còn ở tế bào đích thuốc cản trở tác dụng của adrenalin và acetylcholin.

2.3. Tác dụng ức chế thanh quản, phản xạ ho, phản xạ nôn (do tác dụng chống co thắt cơ).
2.4. Tác dụng kháng histamin nhẹ, chống viêm.

Tuy nhiên bản thân thuốc tê cũng gây dị ứng do đó trước khi sử dụng phải thử test nội bì.

3. Tác dụng phụ:

- Loại tác dụng đặc hiệu, liên quan kỹ thuật gây tê như hạ huyết áp, ngừng hô hấp do gây tê tủy sống, tổn thương dây thần kinh do kim tiêm chọc vào hay do thuốc chèn ép…

- Loại tác dụng do thuốc tê ngấm vào vòng tuần hoàn với nồng độ cao, gây những biểu hiện thần kinh như: buồn nôn, nôn, mất định hướng, động tác giật rung, liệt hô hấp; hoặc tim mạch như: rối loạn dẫn truyền, bloc nhĩ thất...

- Loại phản ứng quá mẫn hay dị ứng phụ thuộc vào từng cá nhân, thường gặp ở nhóm ester (novocain), rất ít gặp ở nhóm amid (lidocain).

4. Tương tác thuốc:

- Để khắc phục tình trạng gây giãn mạch của thuốc tê (trừ cocain gây co mạch), thường phối hợp với adrenalin, nhất là khi gây tê thâm nhiễm. Adrenalin làm co mạch, có tác dụng ngăn cản sự ngấm thuốc tê vào tuần hoàn nên kéo dài thời gian tác dụng của thuốc.

- Các thuốc làm tăng cường tác dụng của thuốc tê: như các thuốc giảm đau gây nghiện, các thuốc an thần...

- Các thuốc làm tăng độc tính của thuốc tê như: quinidin, thuốc phong tỏa b adrenergic.

- Thuốc tê hiệp đồng với tác dụng của cura. Sulfamid đối kháng 2 chiều với các thuốc tê dẫn xuất từ acid para amino benzoic (như procain).

5. Thuốc pha thêm.

- Adrenaline. Khi thêm adrenaline 1:200.000 (5 µg/ml) sẽ kéo dài tác dụng thuốc tê, cầm máu vết mổ, giảm hấp thu thuốc tê vào máu, nhờ đó làm giảm độc tính thuốc tê và cho phép dùng lượng thuốc tê nhiều hơn. Adrenaline làm tăng đau khi chích do pH của dung dịch thấp. Không được dùng thuốc tê có pha adrenaline ở các động mạch tận cùng (ngón tay, dương vật) vì gây co mạch kéo dài và thiếu máu cục bộ.

Bicarbonate. Pha thêm bicarbonate vào thuốc tê sẽ làm tăng nồng độ thuốc tê không ion hóa nên thuốc tê có tác dụng nhanh hơn và giảm đau khi chích. Pha 1 mEq bicarbonate vào 10 ml lidocaine hay mepivacaine nhưng chỉ pha 0,1 mEq bicarbonate vào 10 ml bupivacaine để tránh kết tủa.

- Thuốc phiện (morphine, fentanyl, sulfentanyl) pha vào thuốc tê để tê ngoài màng cứng hay tê tủy sống có tác dụng làm tăng hiệu quả giảm đau và gây tê mà không tăng nguy cơ ngộ độc.

Thuốc đồng vận α2 như clonidine pha vào thuốc tê làm tăng hiệu quả giảm đau và kéo dài thời gian tác dụng.

Bài viết mới

Viêm Xương Tủy Nhiễm Khuẩn

14-03-2019 Hits:260 Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Các Bệnh Cơ Xương Khớp Bộ Y tế

2. NGUYÊN NHÂN 2.1. Nguyên nhân Vi khuẩn hay gặp nhất là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus). Các vi khuẩn thường gặp khác bao gồm liên cầu tan huyết nhóm B, các chủng Pseudomonas, E. coli và các trực khuẩn đường ruột khác và một số loại vi khuẩn khác. 2.2.   Yếu tố nguy cơ Nhiễm trùng da kéo dài, bệnh tiểu đường không được kiểm soát, máu lưu thông kém (xơ cứng động mạch), các yếu tố nguy cơ cho máu lưu thông kém (huyết áp cao, hút thuốc lá, cholesterol máu cao và bệnh tiểu đường), suy giảm miễn dịch, khớp giả, việc sử dụng...

Read more

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CƠ XƯƠNG KHỚP - CỘT SỐNG

ĐƯỢC PHÒNG KHÁM ĐIỀU TRỊ ĐAU (PK ĐA KHOA 589 HOÀNG HOA THÁM) ÁP DỤNG

Giá cả tại phòng khám

Cột sống

Phòng khám luôn cam kết chất lượng điều trị đặt lên hàng đầu với giá cả dịch vụ theo quy định của Bộ Y tế và UBND Tp Hà Nội.

Thông thường một liệu trình điều trị 10 ngày bao gồm 4-6 kỹ thuật điều trị (kéo giãn, châm cứu, điện xung, siêu âm, chườm thuốc, ...), mỗi ngày hết khoảng 250-300k, nếu đóng trước cả đợt 10 ngày sẽ được giảm ngay 10%.

Ngoài ra hiện tại Phòng khám đang triển khai Chương trình khuyến mại giảm ngay 20% và giảm tới 30% gói 10 lần điều trị cột sống.

NSƯT Anh Thái

Tôi thường xuyên bị đau lưng do thoái hóa cột sống, nhờ điều trị châm cứu, kéo giãn tại PK 589 Hoàng Hoa Thám mà bây giờ không còn đau nữa, cám ơn các bác sĩ và y tá.

Đỗ Ngọc Huyền

Mỗi lần đến phòng khám đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám, mình được phục vụ rất chu đáo và không phải chờ đợi để được khám và kết quả lâu. Mình rất thích cách làm việc đó

Mai Khánh Chi

Mình bị thoát vị đĩa đệm, đã điều trị nhiều nơi không đỡ, bác sĩ bảo có thể mình phải đi mổ, mình rất hoang mang và lo sợ. Nhưng sau khi được các bác sĩ PKĐK 589 điều trị điện châm, kéo giãn, mình đã hết đau không cần phải mổ nữa.

Liesna

Mình là người Indonesia nhưng là khách “ruột” của phòng khám, mỗi khi thấy đau lưng là mình hay qua đó để được điều trị. Nói chung là ok lắm từ thái độ phục vụ tới cách làm việc của đội ngũ nhân viên ở đó

Các chuyên đề cột sống

Viết bình luận

Bác sĩ chuyên khoa tư vấn