Giải biểu tễ đại cương

Giải biểu tễ còn gọi là phát biểu tễ, đều có sơ tiết lỗ chân lông tuyên thông phế vệ, phát tán ngoại tà, làm cho có công năng tiết mồ hôi, dùng thích hợp với ngoại tà xâm nhập vệ biểu của cơ thể người ta, mà thấy sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, tắc mũi, đau xương, rêu lưỡi mỏng, mạch phù của chứng biểu.

Giải biểu tễ là lấy dược vật tân, tán, phát biểu làm bộ phận chủ yếu tổ thành. Từ chỗ chọn lấy khí vị của dược vật là tân ôn hay tân lương, có thể chia làm 2 loại lớn là Tân ôn giải biểuTân lương giải biểu.

Tân ôn giải biểu tễ là lấy dược vật có khí vị tân ôn làm bộ phận chủ yếu tổ thành. Thường dùng: Khương hoạt, Phòng phong, Kinh giới, Tế tân, Tô diệp, Hương nhu, Thông bạch, Sinh khương. Kinh phòng bại độc tán là phương tễ đại biểu thường dùng của Tân ôn giải biểu tễ, tác dụng của nó là lấy khí vị cay ấm của thuốc phát biểu để phát tán phong hàn, khai thông lỗ chân lông, mà đạt đến mục đích là giải trừ biểu chứng, thường dùng ở phong hàn ngoại cảm thúc vào phế vệ của biểu hàn chứng.

Tân lương giải biểu tễ là lấy khí vị cay mát của dược vật phát biểu làm bộ phận chủ yếu tổ thành. Thường chọn dùng: Đậu khấu, Ngưu bàng tử, Cát căn, Bạc hà, Phù bình, Tang diệp… Ngân kiều tán là phương tễ đại biểu thường dùng của Tân ôn giải biểu tễ, tác dụng chủ yếu của nó là lấy khí vị cay mát của thuốc giải biểu để tán phong, thanh nhiệt, sơ tiết lỗ chân lông, thường dùng cho phong nhiệt ở phế vệ của biểu nhiệt chứng.

Vì thế phân biệt chủ yếu của Tân ôn giải biểu và Tân lương giải biểu là ở chỗ chọn dùng dược vật phát biểu có khí vị cay mát hay cay ấm. Lại nó về phía tác dụng giải biểu thì cái trước là ôn để tán hàn, tác dụng phát hãn rất lớn mà tác dụng thanh nhiệt rất yếu; cái sau là tác dụng phát hãn rất yếu mà tác dụng thanh nhiệt lại rất mạnh. ở trên các sách vở Y học phương Đông đối với Tân ôn và Tân lương thì phân biệt rất khắt khe, cho rằng bệnh do phong hàn tất dùng Tân ôn, do phong nhiệt tất dùng tân lương. Nhưng thực tiễn lâm sàng phần lớn trong mấy năm gần đây có nhiều trường hợp cùng dùng Tân ôn và Tân lương mà dùng được kết quả chạy chữa rất mãn ý. Nếu chữa bệnh cảm thời khí (lưu cảm) và cảm nhiễm đường hô hấp trên thời thường dùng Khương bàng bồ bạc thang cũng là lấy cái cay ấm của Khương hoạt và cay mát của Ngưu bàng, Bạc hà cùng dùng để phát tán ngoại tà, giải trừ biểu chứng.

Dược vật phối ngũ thường dùng trong giải biểu tễ có các loại dược vật tuyên phế, thanh nhiệt, hóa thấp đã thích ứng với các loại ngoại cảm nhiệt bệnh khi mới dấy lên, biểu hiện khác nhau của biểu chứng.

Dược vật tuyên phế thường dùng trong giải biểu tễ là Ma hoàng, Hạnh nhân, Tiền hồ, Cát cánh… Tác dụng chủ yếu của nó là tuyên thông phế khí, sau khi phối ngũ với giải biểu dược có tác dụng tăng cường khai phát lỗ chân lông, đuổi tà ra ngoài, ví như Kinh phòng bại độc tán, Ngân kiều tán  trong phương đó có sử dụng Cát cánh cũng là phương pháp phối ngũ kiểu này.

Dược vật thanh nhiệt giải độc thường dùng trong giải biểu tễ là Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Bồ công anh, đó là phương pháp phối ngũ chủ yếu của tân lương giải biểu tễ. Ví dụ như Ngân kiều tán thanh nhiệt giải độc là Ngân hoa, Liên kiều cùng phối ngũ với giải biểu dược là Đậu khấu, Ngưu bàng, Kinh giới, Bạc hà mà thành, là phương tễ điển hình của giải biểu thanh nhiệt.

Dược vật hóa thấp thường dùng trong giải biểu tễ là Hậu phác, Hoắc hương…nó dùng thích hợp ở ngoại cảm biểu chứng mà kiêm có chứng hậu thấp trọc vướng ở trong (như ngực buồn bằn, ngại mệt, rêu lưỡi dầy trơn) làm cho thấp dược hóa ở trong mà biểu tà dễ giải từ ngoài, như mùa hạ, thu thường dùng Hương nhu ẩm lấy cái khổ ôn táo thấp của Hậu phác và cái khử thử giải biểu của Hương nhu cùng phối ngũ cũng là một cách trong phối ngũ này.

Phương pháp sắc của phương tễ giải biểu nhất thiết lấy nguyên tắc là ngâm nhiều sắc ít. Đó là vì dược vật giải biểu lại hay dùng phẩm chất thơm tho, nhẹ, trong, sạch (phương hương khinh thanh) nếu đun nấu quá lâu dễ bay hơi mất hiệu. Có một số dược vật như Bạc hà lại phải cho vào sau (tức là sau khi đun sôi mới lại cho dược vật vào sắc sôi năm ba dạo là được). Khi uống giải biểu tễ, cần uống nóng, kèm thêm thường uống nước sôi, lấy chớm ra mồ hôi làm mức.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết