Ôn tễ đại cương

Ôn tễ là dùng dược vật tính ôn, tính nhiệt, làm phấn chấn dương khí của người bệnh, đuổi trừ hàn tà, là một loại phương tễ chữa dương suy lý hàn. Trong “Bát pháp” thuộc về “Ôn pháp”.

Hàn chia ra biểu hàn, lý hàn, nhất loạt không ngoài 2 loại đó. Một là do ngoại hàn thẳng vào lý, một là do trong cơ thể dương suy âm thịnh. Trên lâm sàng căn cứ vào tình trạng chứng lý hàn nặng nhẹ hoãn cấp khác nhau, trước hết là mức độ dương suy khác nhau chia làm 2 loại ôn trung khử hàn và hồi dương cứu nghịch.

Phương tễ ôn trung khử hàn, chủ yếu là dùng ở chứng hậu lý hàn. Loại chứng hậu này tuy thuộc dương hư âm thịnh, nhưng chưa đến mức dương khí suy thoát. ở trên lâm sàng thường thấy phần lớn là chế ở một chỗ, hoặc một nội tạng có chứng hư hàn như tỳ vị hư hàn, xuất hiện tức ngực, nôn mửa, bụng trên chướng đau, tứ chi không ấm, nạp chứa không hay, miệng không khát, mạch trầm trì, rêu lưỡi trắng nhạt, là những hiện tượng của trung tiêu hư hàn. Có thể theo cách dùng thuốc ôn lý và thuốc kiện tỳ cùng phối hợp như Can khương, Ngô thù đau, Thục tiêu, sakhu, Nhân sâm, Bạch truật, Cam thảo. Lý trung hoàn thang cũng là một phương tễ đại biểu về mặt này. Nếu trung tiêu hàn quá lắm, bụng trên lạnh đau, thì phải dùng phép kiện trung, như Đại kiến trung thang. Nếu can kinh hàn khí nghịch lên, xuất hiện bụng trên công đau, sau khi ăn muốn nôn hoặc nôn khan, mửa ra bọt dãi, cần ôn trung tán hàn, giáng nghịch chỉ nôn, như Ngô thù du thang. Nếu nội thương vì ăn đồ sống lạnh, ngoại cảm biểu hàn, cần phải giải một lúc cả biểu và lý, có thể dùng loại Ngũ chỉ tán.

Phương tễ hồi dương cứu nghịch chủ yếu là dùng ở âm hàn ở trong đã thịnh, dương khí suy chỉ còn rất nhỏ yếu, quá lắm hoặc có hiện tượng dương khí muốn thoát. Loại bệnh này nhất loạt lá rất nghiêm trọng, nguy cấp, chứng trạng toàn thân hư hàn rất rõ ràng, không dùng tễ ôn nhiệt hồi dương hoặc phương tễ ôn bổ cố thoát, khó lòng mà thu được hiệu quả. Loại phương tễ chủ yếu do dược vật tân, ôn, táo, nhiệt tổ thành, như: Phụ tử, Can khương, Nhục quế. Tứ nghịch thang là một phương tễ đại biểu về mặt này. Nhưng dương khí suy vi, có thể đã xuất hiện rất nhiều loại hình khác nhau, như dương hư không thể hóa thủy, thủy khí đình ở trong thì dùng Ôn dương lợi thủy thang. Dương khí bạo thoát thì dùng Sâm phụ thang. Ngoài đó ra, khi ứng dụng ôn tễ lại phải chú ý mấy loại tình huống sau:

1. Âm hàn thịnh ở trong, lại dễ dẫn đến huyết hành không thư, khí trệ không thông, bản thân ôn tễ tính chất của vị cay ấm, có thể tuyên tán âm hàn ngưng tụ, có thể dẫn đến phấn chấn huyết hành và tác dụng sơ thông khí cơ. Nhưng nếu như lý hàn mà khí trệ quá lắm, tốt hơn hết là ở trong ôn tễ cần liệu đưa thêm vào Ô dược, Hương phụ, Thanh bì, Mộc hương là thuốc cay ấm hành khí.

2. Âm hàn nội thịnh, lại dễ dẫn đến dương khi rất suy vi, hoặc suy vi, mà ôn tễ tuy đều có tác dụng trợ dương hoặc hồi dương. Nếu khi âm thịnh mà dương khí suy vi muốn thoát, lại cần thêm vào trong ôn tễ Nhân sâm, Ngũ vị tử, Long cốt để tăng thêm tác dụng cố thoát, mới có thể thu được kết quả chữa rất tốt.

3. Ôn tễ tính chất thuộc về ôn nhiệt, quá trình sử dụng có thể dẫn đến hao tổn âm dịch. Khi sử dụng tễ lớn thuốc ôn nhiệt, nên phối dụng thích đáng một số ít dược vật hòa âm như Bạch thược, để phòng dứt hao thương âm dịch. Chứng âm dương lưỡng hư thuốc ôn dương cần dùng với thuốc hộ âm.

4. Tất phải phân tích cho rõ chứng nhiệt quyết trong thì chân nhiệt, ngoài thì giả hàn, để tránh dùng ôn tễ.

Chương ôn tễ này bao quát 2 mặt ôn trung khử hàn và hồi dương cứu nghịch.

Ôn trung khử hàn lấy Lý trung hoàn làm chủ phương, dùng thích hợp ở tỳ vị hư hàn, đau bụng ỉa chảy, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch tượng trầm ty. Đại kiến trung thang dùng thích hợp ở trung tiêu hư hàn, âm hàn nghịch lên, bụng trên đau dữ dội, nôn không thể ăn được. Ngô thù du thang chủ trị can kinh hàn khí nghịch lên, bụng trên chướng đau, ăn vào muốn nôn, hoặc nôn khan, mửa ra bọt dãi, đau đầu. Đến ở Ngũ tích tán là phương biểu lý song giải, mà vẫn lấy khử hàn làm chính.

Hồi dương cứu nghịch tễ lấy Tứ nghịch thang làm chủ phương, dùng thích hợp ở âm hàn thịnh ở trong, mà có cái nguy của vong dương, trước hết là ỉa dễ mà thấy chi lạnh mạch vi, Tứ nghịch thang càng là phương tất nhiên phải dùng. Sâm phụ thang trị chứng dương khí suy vi muốn thoát, đó là chứng Tứ nghịch thang càng nguy cấp. Ôn dương lợi thủy thang dùng ở thận dương hư nhược, thủy khí đình ở trong, chi thể phù thũng, tiểu tiện không dễ.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết