Đại thừa khí thang

(Phụ: Phức phương đại thừa khí thang)

“Thương hàn luận”

– Tổ thành:  Đại hoàng  2-4 đc

                        Mang tiêu     3-5 đc   (hiện dùng Huyền minh phấn là thứ tinh chế của nó)

                        Hậu phác    3-4 đc

                        Chỉ thực    2-4 đc

– Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước uống. Sau khi đun trước Hậu phác và CHỉ thực sôi chừng 10 phút, cho thêm Đại hoàng giữ sôi dăm ba dạo, sau đó bỏ bã, lại cho Mang tiêu (hoặc Huyền minh phấn) vào thì có thể uống được. Trước hết uống nước đầu, 2-3 gò sau mà chưa thấy tả hạ thì uống nước sắc lần 2, nếu đại tiện đã được dễ dàng thì thuốc còn lại không uống nữa.

– Công dụng: Rửa sạch thực nhiệt trường vị, công hạ phân tích ở trong ruột, tiêu bĩ trừ đầy và tả hỏa giải độc, tiết nhiệt lợi đởm.

– Chủ trị: Trong văn cổ đại “Thương hàn luận”, “Kim quỹ yếu lược”đã ghi lại phạm vi thích ứng của phương này là:

1. Thực chứng của Dương minh phủ: Sốt về chiều, nói mê, cuồng thao, bụng trướng đầy mà rắn cứng không cho ấn, bí ỉa, ngáp hơi, tay chân hay có mồ hôi, rêu lưỡi vàng khô xác, ven đầu lưỡi nổi gai hoặc rêu lưỡi nứt khô, mạch trầm hoạt có lực.

2. Nhiệt kết bàng lưu: Gọi là nhiệt kết bàng lưu tức là chứng sốt cao vật vã, thần thức mơ màng, bụng trướng đầy mà làm đau, đi ỉa ra tạnh, đục mà không dễ, rêu lưỡi vàng khô xác, mạch hoạt sác, cũng là chứng Dương minh phủ như có giả tượng là hạ lỵ.

3. Thực chứng của Dương minh phủ đến mức hôn quyết, kinh quyết: Thấy sốt cao, hôn mê, chân tay co quắp, miệng cắn, răng nghiến, ngực bụng đầy trướng, bí ỉa. Thậm chí có chứng uốn ván (giác cung phản chướng). Trước mắt trên lâm sàng đối với chứng tắc ruột (trường canh trở), cấp tính viêm túi mật, cấp tính viêm ruột thừa, chứng thần kinh phân liệt mà bí ỉa, và một số bệnh nhiệt tính trong quá trình xuất hiện sốt cao, hôn mê, kinh quyết, nói mê, mà thấy có thực chứng ở Dương minh phủ thường lấy phương này làm cơ sở gia giảm để sử dụng.

– Giải nghĩa của phương: Tổ thành của phương này có thể chia thành 2 bộ phận tả hạ và hành khí. Đại hoàng khổ hàn, tiết nhiệt, tả hỏa giải độc; Mang tiêu hàm hàn, nhuận toá, làm mềm vật rắn (nhuyễn kiên), phá kết, là bộ phận tổ thành chủ yếu của tác dụng tả hạ ở phương này, để rửa sach nhiệt kết ở trường vị, công hạ phân tích trong ruột. Hậu phác thì khổ hàn khoan trung hành khí, Chỉ thực khổ hàn, phá khí tiêu tích đạo trệ, là bộ phận hành khí của phương này, để tiêu bĩ trừ đầy. Hành khí và tả hạ phối ngũ nhất loạt cho rằng có tác dụng hiệp đồng, mà làm cho tác dụng tả hạ thêm mạnh.

Tiền nhân đối với tác dụng của phương này đã quy nạp phạm vi thích ứng làm 4 chứng “Bĩ, mãn, táo, thực”:

+ Bĩ: là chỉ bụng trên có hòn cục cứng rắn (bao gồm tự thấy hoặc có thể sờ thấy hoặc có thể do đó mà sản sinh ra chứng trạng chèn ép, vướng tắc và đau đớn).

+ Mãn: là chỉ chứng trạng bụng trên đầy chướng.

+ Táo: là chỉ táo ở ruột, tức là trong ruột có cục phân rắn kết, mà thấy đại tiện bế kết, rêu lưỡi khô táo.

+ Thực: là chỉ “phủ thực”, tức là trong ruột có chứa thức ăn tích phân, có hình thực tà.

Phương này chọn dùng 4 loại thuốc Chỉ thực, Hậu phác, Mang tiêu, Đại hoàng cũng là phân biệt nahừm vào 4 loại chứng hậu “bĩ, mãn, táo, thực”. Cho nên khi vận dụng ở lâm sàng, thì vị thuốc gia giảm có thể căn cứ vào “Bĩ, mãn, táo, thực” nặng, nhẹ thế nào mà linh hoạt vận dụng.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết