Thập táo thang

(Phụ: – Khống diên đan,  – Chu sa hoàn)

“Thương hàn luận”

– Tổ thành: 

Cam toại

 

   phần bằng nhau

 

Nguyên hoa

Đại kích

Đại táo

10 quả

– Cách dùng: Cam toại, Nhuyên hoa, Đại kích nghiền nhỏ mịn, mỗi lần uống 5 phân đến 1 đồng cân, khi sáng sớm bụng đói uống, lấy 10 qủa Đại táo đun làm thang, sau khi bỏ voe và hột, thêm vào mà uống, hoặc chế thành hoàn tễ, mỗi lần uống 5 phân đến 1 đồng cân, sáng sớm bụng rỗng nuốt uống. Sau khi kịch liệt tả hạ, có thể uống cháo loãng để hòa vị dưỡng khí.

– Công dụng: Công trục thủy ẩm.

– Chủ trị: Phương này đời xưa dùng ở “huyền ẩm”, tức là dưới sườn có thủy khí, xuất hiện ho nhổ, sườn ngực dẫn đau, dưới tim có hòn rắn, nôn khan ngắn hơi, đau đầu hoa mắt, lưỡi trơn, mạch huyền hoạt. Cận đại thường dùng ở ngoan cố tính thuỷ thũng nghiêm trọng, ngực bụng có nước, không nằm ngang được, thở xuyễn ngắn hơi, mà thể chất rất tốt.

– Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ điển hình của tuấn tả trục thủy. Khi nghiền nhỏ nuốt uống vào có tác dụng tả hạ kịch liệt, vừa có thể dẫn đến tác dụng phụ ác trở, nôn mửa. Nếu sắc nước bỏ bã, chỉ có tác dụng thông niệu nhẹ nhàng, mà không có tác dụng tả hạ trục thủy, tác dụng phụ cũng mất đi. Do đó, trong “Thương hàn luận” dùng làm phiến tễ hòa nước uống, có ý nghĩa nhất định của nó. Trong phương phối lấy Đại táo, là lấy cái hòa vị dưỡng khí, để giảm bớt phó tác dụng.

Tóm lại, phương này là phương tễ tuấn công trục thủy, khi sử dụng cần thận trọng, thẩm sát tỷ mỉ lực lượng so sánh 2 mặt chính tà của người bệnh. Ví dụ, chứng chướng bụng nước của thời kù cuối bệnh gan xơ hóa, nhất loạt đều thuộc bản hư tiêu thực, dùng phương này tuấn công trục thủy (đại nhanh chóng để trục nước ra) thuộc về “cấp tắc trị kỳ tiêu” phải thi thố nhanh, mà không phải phương pháp trị ở bản, vừa do Cam toại có thể dẫn tới nôn mửa kịch liệt, khi sử dụng ta phải chú ý.

– Phụ phương:

1. Khống diên đan: Cam toại, Đại kích, Bạch giới tử, đều bằng nhau, nghiền nhỏ, hồ bột làm viên, mỗi lần uống 5 phân đến 1 đồng cân, sau bữa ăn cơm, lúc đi nằm dùng nước gừng nấu loãng để uống. Thường dùng ở đờm dãi tỏa trệ ở phế, hoặc thủy ẩm ép phế mà thấy ho hen không thể nằm ngay, hoặc thấy mặt phù, chi sưng, các hàng thuốc Đong y sẵn có thuốc viên để cung ứng.

2. Chu sa hoàn: Hắc sửu nghiền nhỏ 4 lạng, Cam toại (nướng), Nguyên hoa, Đại kích (đều sao với dấm) mỗi thứ 1 lạng, Đại hoàng 2 lạng, Thanh bì, Trần bì, Mộc hương, Binh lang mỗi thứ đều 5 đồng cân, Khinh phấn (là thủy ngân thăng hoa mà thành bột mịn mầu trắng) 1 đồng cân, thuốc trên nghiền thành bột nhỏ, vẩy nước làm viên, mỗi lần uống trên dưới 2 đồng cân, sáng sớm bụng rỗng uống với nước sôi để ấm. Phương này ngoài tác dụng tả hạ ra, còn có tác dụng lợi niệu rất mạnh, nhất loạt thường dùng để làm thuốc tiêu thủy thũng. Các hiệu thuốc Đông y đều có thuốc viên để cung ứng, cũng có thể dùng làm thang tễ.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết