Thanh cốt tán

“Chứng trị chẩn thằng”

-Tổ thành:

Ngân sài hồ

2-4 đc

Địa cốt bì

2-4 đc

Hồ hoàng liên

1-3 đc

Thanh cao

1-3 đc

Tần cửu

1-3 đc

Tri mẫu

2-4 đc

Miết giáp

2-4 đc

Cam thảo

1-2 đc

– Cách dùng: Ngày uống 1 tễ, sắc với nước chia làm 2 lần uống.

– Công dụng: Thanh hư nhiệt, thoái cốt chưng, dưỡng âm thanh hỏa.

– Chủ trị: Âm hư, sốt về chiều, nóng trong xương (cốt chưng) như bệnh lao và một số bệnh mạn tính. Trong quá trình xuất hiện chứng sốt nhẹ, sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, lại vừa có chứng hỏa thăng lên gò má hồng, toàn thân gầy mòn, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác, nhu sác hoặc hư sác.

– Giải nghĩa của phương: phương này tuy do dược vật hàn lương tổ thành nhưng không phải là thuốc đại khổ hàn, là phương tễ đại niểu thanh hư nhiệt, thoái cốt chưng triều nhiệt. Trong phương lấy Ngân sài hồ và Thanh cao, Tần cửu (phương này dùng Tần cửu là trừ cốt chưng không phải là khử phong thấp) hợp lại để thanh huyết nhiệt mà trừ cốt chưng. Lại lấy Địa cốt bì để thanh phế hỏa, Hồ hương liên để thanh tâm hỏa, Tri mẫu thanh thận hỏa, nhưng tác dụng thanh hỏa của 3 thứ thuốc đó là thanh hư hỏa chứ không phải thanh thực hỏa, làm cho hư hỏa của tạng phủ được thanh thì sốt về chiều tự lui. Miết giáp để tư âm bổ can thận, thận trị hư lao, Cam thảo câm bình hòa trung để tránh cái thuốc khổ hàn làm hai vị khí.

– Cách gia giảm thường dùng: Phương này sức thoái nhiệt rất mạnh, mà sức tư âm dưỡng huyết rất nhẹ, nếu chứng trạng âm hư, huyết hư suy khi đột xuất hoặc có khí âm lưỡng hư phải lấy gia giảm sử dụng. Nhất lạot có thể bỏ Ngân sài hồ, Hồ hoàng liên thêm vào Đương quy, Sinh địa, Tần cửu, Miết giáp tán ở “Vệ sinh bảo giám”. Như khi thấy mặt bợt ra, tiếng thấp đi, ít hơi, nói lắp là khí âm lưỡng hư, có thể gia Đẳng sâm, Hoàng kỳ (tẩm mật đốt), (Tần cửu phù luy thang ở “Trực chỉ phương” tức là Tần cửu, Miết giáp, Địa cốt bì, Sài hồ, Đương quy, Nhân sâm, Tử uyển, Bán hạ, Cam thảo, Khương, Táo. Hoàng kỳ miết giáp tán ở “Vệ sinh bảo giám” tức Hoàng kỳ, Nhân sâm, Miết giáp, Tần cửu, Địa cốt bì, Sinh địa, Thược dược, Tri mẫu, Thiên đông, Phục linh, Sài hồ, Tang bạch bì, Tử uyển, Bán hạ, Cát cánh, Cam thảo, Nhục quế). Nếu thấy dạ dày và miệng không tốt, đi ỉa lỏng là lúc chứng trạng tỳ vị hư nhược, có thể bỏ Tần cửu, Hồ hoàng liên là hạng khổ hàn, gia vào Đảng sâm, Bạch truật, Sơn dược, Biển đậu, Lục khúc là thuốc kiện tỳ hòa vị.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết