Tiểu kết thanh nhiệt tễ

1. Phạm vi ứng dụng của thanh nhiệt tễ rất rộng, phương tễ rất nhiều, biến hóa phối ngũ cũng rất nhiều phức tạp. ở chương này chỉ lựa chọn phương tễ đại biểu rất thường dùng trên lâm sàng và đều có mỗi một mặt đặc điểm phối ngũ. Ví dụ như:

– Ở Thạch cao, Tri mẫu là chủ trong phương tễ, trừ đã tuyển chọn trong Thạch cao tri mẫu thang để đại thanh khí nhiệt, cùng với Nhân sâm, Thương truật, Quế chi cùng phối ngũ, tách riêng ra nói rõ tác dụng ích khí thanh nhiệt, tó thấp thanh nhiệt, hòa doanh thông lạc thanh nhiệt. Lại đã tuyển vào Trúc diệp thạch cao thang, Thạch cao thục địa tiễn, Thanh ôn bại độc ẩm là 3 phương để nói rõ biến pháp của nó. Thạch cao và Nhân sâm, Mạch đông, Bán hạ cùng phối ngũ tức thành phương tễ ích khí âm, thanh dư nhiệt, mà hòa vị giáng nghịch. Thạch cao, Tri mẫu và Thục địa, Ngưu tất cùng phối ngũ tứ thành phương tễ tráng thận thuỷ, tả vị hỏa. Thạch cao tri mẫu thang với Tê giác địa hoàng hoàn, Hoàng liên giải độc thang hợp lại dùng tức là thanh phương tễ đại tễ tả hỏa giải độc.

– Ở Hoàng liên, Hoàng cầm làm chủ dược trong phương tễ đã tuyển chọn Tả tâm thang, Hoàng liên giải độc đã nói rõ sử dụng số lớn thuốc khổ hàn tiết nhiệt táo thấp tổ thành tả hỏa giải độc tễ. Đồng thời đã tuyển vào Cát căn cầm liên thang, Phổ tễ tiêu độc ẩm, Thanh ôn bại độc ẩm, Đương quy lục hoàng thang 3 phương tách riêng nói rõ tả hỏa giải độc có thể đã cùng với phát biểu thăng tán, lương huyết thanh khí, bổ âm dưỡng huyết là những cách dùng phối ngũ.

– Ở lấy Tê giác, Địa hoàng làm chủ dược trong phương tễ đã tuyển Thanh doanh thang, Tê giác địa hoàng thang tách riêng nói rõ phương pháp phối ngũ của các phép thanh doanh, lương huyết, giải độc.

– Ở một loại trong thanh thấp nhiệt, trừ Tả tâm thang, Hoàng liên giải độc thang trong phương tễ tả hỏa giải độc cũng có tác dụng thanh thấp nhiệt ra ngoài, lại đã tuyển Bạch đầu ông thang, Nhân trần cao thang, Cam lộ tiêu độc đanLiên phác ẩm. Bạch đầu ông thang đã trị nhiệt lỵ làm chủ, nói rõ thanh thấp nhiệt có thể cùng dùng với phép lương huyết giải độc. Nhân trần cao thang đã thoái hoàng làm chủ, nói rõ thanh thấp nhiệt có thể cùng dùng với phép tả hạ. Cam lộ tiêu độc đan dùng ở thấp nhiệt lưu luyến, nói rõ phương pháp thanh lợi thấp nhiệt cùng phối ngũ với phương tuyên hóa, điều thư khí cơ và thấm đàm lợi thấp. Liên phác ẩm táo thấp thanh nhiệt, thuộc về phương tân khai khổ giáng.

– Ở trong phương tễ thanh tạng phủ lý nhiệt, chương này đã coi trọng rõ ràng 2 phương Long đởm tả can thang  Tả phế tán (Tả bạch tán). Đến ở Tả tâm thang, Đạo nhiệt (xích) tán, Thanh vị tán, Tả tỳ (hoàng) tán trở đi đều cho là phương tễ đại biểu tả tạng phủ lý nhiệt. Nhưng chúng tôi cho rằng Tả tâm thang phải quy vào tả hỏa giải độc tễ, Đạo nhiệt tán đáng quy vào hóa thấp lợi thuỷ tễ thì rất là xác đáng. Phương tễ Thanh vị tán Tả tỳ tán có thể đã quy vào trong các loại riêng khác, có thể do cơ hội sử dụng ở thực tế không nhiều mà chưa chọn tuyển vào.

– Ở trong phương tễ thanh hư nhiệt, chương này đã tuyển chọn vào Thanh cốt tánThạch cao miết giáp thang đã nói rõ Thạch cao, Miết giáp cùng phối ngũ là phương pháp cơ bản thanh hư nhiệt. Đồng thời nói rõ, cái trước phối ngũ với Tần cửu, Ngân sài hồ coi trọng thanh nhiệt, cái sau phối ngũ với Địa hoàng, Tri mẫu coi trọng tư âm. Ngoài đó ra, lại đã tuyển vào Dưỡng âm thanh phế thang, Liên kiều thạch hộc thang đã nói rõ phương pháp cùng phối ngũ tăng dịch tư âm với thanh nhiệt giải độc.

2. Tác dụng chủ yếu của thanh nhiệt tễ tuy là nhằm vào bệnh tà mà nói, thường dùng ở bệnh chứng tà nhiệt tích thịnh lại thường tổn thương âm dịch, cho nên ở lúc sử dụng cụ thể lại phải phân biệt trình độ tổn thương âm dịch và tình huống hư thực của 2 mạt chính tà. Nếu khi tà nhiệt tích thịnh mà âm dịch tổn thương lại không là phương diện mâu thuẫn chủ yếu, trọng điểm của trị liệu cần lấy tả hỏa thanh nhiệt giải độc làm chủ. Nếu âm dịch tổn thương đã nâng lên thành mâu thuẫn chủ yếu, khi thấy chất lưỡi hồng sáng, ít rêu, thì cần lấy tư âm lương huyết làm chủ, kiêm lấy thanh nhiệt tả hỏa. Đồng thời khi chọn dùng dược vật dưỡng âm sinh tân phối ngũ, tất cần chú ý nắm chắc đặc tính của các loại dược vật dưỡng âm sinh tân. Ví dụ như: Đến khi thấy rêu lưỡi như cám mà khô táo, có thể dùng Lô căn, Thiên hoa phấn là loại dược vật dưỡng vị sinh tân phối ngũ lại. Nếu thấy lưỡi khô đỏ, mà ít rêu, có thể dùng Sinh địa tươi, Thạch hộc tươi là loại dược vật cam hàn dưỡng âm tăng dịch làm phối ngũ. Nếu thấy rêu lưỡi sáng xanh, chất lưỡi đỏ khô, nứt rạn, sẽ phải dùng Miết giáp, Quy bản là dược vật hàm hàn tư âm. Dược vật tư âm dùng quá sớm hoặc không dùng đúng chỗ cần sử dụng, thường cũng vướng tà mà ảnh hưởng kết quả chữa.

3. Mấy năm gần đây, ở thực nghiệm ức khuẩn ngoài cơ thể và trên thực tế lâm sàng, phát hiện thấy phần nhiều phương tễ và dược vật loại thanh nhiệt giải độc đều có tác dụng kháng khuẩn rất rõ rệt. ở trong công cuộc vận động quần chúng sử dụng thuốc cây con đông dược lại phát hiện được rất nhiều cây cỏ thuốc như: Mã đề (Xa tiền thảo), Xeo gà (Phượng vĩ thảo), Cỏ chân vịt (áp chích thảo), Lộc hàm thảo, Đan sâm, Bạch mao hạ khô thảo…đều có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh, đã có thể chế thành thuốc tiêm, kiểu đó ứng dụng trên lâm sàng phạm vi của thanh nhiệt tễ sẽ càng thêm được rộng lớn.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết