Các dấu hiệu cơ bản của tổn thương xương trên phim X quang

Các loại hình thương tổn của xương được chia làm 3 loại có liên quan đến độ cản quang, cấu trúc và hình dáng, có khi riêng lẻ, có khi phối hợp; cản quang, cấu trúc và hình dáng, có khi riêng lẻ, có khi phối hợp.

1. Hình ảnh X quang xương khớp bình thường

1.1. Hình ảnh X quang xương:

– Các loại xương:

+ Các xương dài hay còn gọi là xương ống bao gồm: đầu xương ( xương xốp); thân xương có thành phần cản quang lớn là xương đặc (vỏ xương) và ống tủy không cản quang. Thành phần sụn gồm: sụn viền ở bờ xương và sụn tiếp hợp ở các đầu xương (ở người trẻ). Màng xương không cản quang nên không thấy được trên phim.

+ Các xương dẹt và xương con: thành phần chủ yếu là xương xốp được bao bọc bởi một lớp xương đặc rất mỏng xung quanh vì vậy cản quang kém.

1.2. Khớp :

Các thành phần thấy được trên phim của khớp là các đầu xương của khớp, và khe khớp. Khe khớp ở trẻ nhỏ thường rộng vì phần sụn đầu xương còn nhiều. Các thành phần còn lại không cản quang là sụn chêm, bao hoạt dịch, dây chằng chỉ th?y dược trên phim chụp cộng hưởng từ.. Còn trên phim chụp X quang quy ước các thành phần này chỉ thấy được khi bị vôi hoá.

1.3. Nhân xương:

Còn được gọi là các điểm cốt hóa, với các xương dài chúng nằm ở đầu xương khi trưởng thành sẽ cốt hoá và hoà nhập với thân xương. Các xương con và xương dẹt đều có nhân xương là phần sụn bao bọc xung quanh. ở trẻ nhỏ thành phần chủ yếu của các xương tụ cốt là sụn nên chưa hiện hình trên phim. Tóm lại, quá trình phát triển của các nhân xương ban đầu là tổ chức sụn không cản quang, sau đó cốt hóa dần mới hiện hình trên phim chụp. Mỗi nhân xương được cốt hóa ở mỗi một thời điểm khác nhau của tuổi đời.Vì vậy, chúng hiện hình trên phim X quang cũng ở các thời điểm cũng khác nhau.

2. Bất thường về độ cản quang

Độ cản tia X của xương tùy theo lượng Calcium chứa trong một đơn vị thể tích. Tỉ lệ này cũng có giá trị như chỉ số vỏ – tủy đo ở thân xương chày:

– Giảm độ cản quang của xương: chỉ thấy được trên phim X quang quy ước khi số lượng calci giảm ít nhất là 30%. Biểu hiện bằng hình ảnh sáng (đen hơn) mô lành ở chung quanh, gọi là loãng xuơng. Ta gặp quá trình này xãy ra:

+ Cho tất cả các xương, trong một số bệnh lý tổng quát.

+ Một cách khu trú ở các bệnh nhiễm khuẩn, ký sinh trùng, u , chấn thương, ở một số nguyên nhân khác.

– Tăng độ cản quang của xương: khi tỉ lệ muối Calci gia tăng, biểu hiện bằng hình ảnh mờ (trắng hơn) tổ chức lành chung quanh, gọi là đặc xương. Ta gặp đặc xương trong các trường hợp sau đây:

+ Lan tỏa trong bệnh máu, di căn xương, rối loạn hoạt động tuyến giáp, nhiễm độc các kim loại nặng, giang mai xương, các bệnh xương bẩm sinh.

+ Khu trú: là một phản ứng của xương đối với một tổn thương, hoặc là bệnh lý có tân tạo xương.

– Độ cản quang hỗn hợp: vừa tăng vừa giảm, thường thấy trong các quá trình viêm mạn, u, bệnh máu…

3. Bất thường về cấu trúc

3.1. Quá trình hủy xương

Dấu hiệu cơ bản là hình khuyết (lacune) nếu ở trung tâm, hình gặm mòn ở bờ (erosion) nếu ở ngoại biên. Bên trong không có Calci, không hoặc giảm cản quang, nhưng lại chứa mô sống hoặc đã chết.

Các dấu hiệu cơ bản của tổn thương xương trên phim X quang

– Tuỳ theo mức độ phá huỷ ta có:

+ Loãng xương hay thưa xương.

+ Huỷ xương.

+ Tiêu xương.

+ Hoại tử xương, có mảnh xương chết.

– Tuỳ theo vị trí:

+ Nếu ở thân xương trước hết phải nghĩ đến di căn ung thư, khối u có nguồn gốc từ máu, nhiễm khuẩn.

+ Nếu ở hành xương trước hết  nghĩ đến u nguyên phát.

+ Đầu xương trước hết phải nghĩ đến u hủy cốt bào, u nguyên bào sụn.

+ Liên quan đến sụn: sụn tiếp hợp và sụn khớp tạo nên hàng rào ngăn u lành và u ác tính không qua được, trái lại một số quá trình nhiễm khuẩn lại vượt qua được các sụn.

+ Liên quan đến vỏ xương: cần chụp 2 tư thế thẳng góc với nhau.

Hình thái và kích thước: có thể bầu dục, hình tròn, hình cung hoặc nhiều vòng. Kích thước cho biết sự tiến triển của tổn thương.

Giới hạn đường bờ: phụ thuộc vào tốc độ phát triển và quyết định tình trạng của xương kế bên.

+ Giới hạn đặc: tổn thương tiến triển chậm (nhiễm khuẩn mạn, u lành).

+ Bờ viền rõ: hình khuyết như đột lỗ, không có phản ứng chung quanh tổn thương thể hiện quá trình tiến triển chậm : bệnh Kahler, bệnh hệ võng  (reticulose).

+ Bờ viền thành quầng hoặc không liên tục: nói lên tổn thương tiến triển rất nhanh (ung thư nguyên phát hoặc thứ phát, nhiễm khuẩn cấp tính). Đôi khi giới hạn trở nên rất mờ, khó thấy vì  có nhiều ổ khuyết nhỏ (microgéodes), đây là những tổn thương tiến triển rất nhanh của u ác tính nguyên phát.

+ Mảng tổn thương: đồng nhất, có vách ngăn (thường là u hủy cốt bào, hoặc tổn thương đóng kén). Lấm tấm các hạt vôi hóa nhỏ, gợi ý nguồn gốc từ sụn. Xuất hiện đám mờ ở tâm thường là nhiễm khuẩn mạn, có ổ xương chết, hoại tử vô khuẩn.

3.2. Quá trình tạo xương

– Phản ứng tạo xương: đó là hiện tượng tân tạo xương bắt đầu từ các thớ xương. Quá trình này làm xương dày lên và biến dạng thể hiện qua các đặc điểm về hình thái, vị trí, bờ viền, xâm lấn và giới hạn của quá trình phản ứng xương gây ra. Bao gồm:

+ Đặc xương: toàn bộ thớ xương dày lên, tăng độ cản quang.

+ Xơ xương.

– Phản ứng màng xương: khi một khối u hay tổn thương nhiễm khuẩn, tổn thương viêm tác động vào màng xương gây phản ứng tạo xương mới từ mặt trong của màng xương. Hiện tượng tân tạo này của màng xương tạo nên hình bồi đắp.

Khi màng xương bị phá hủy từng chỗ và bị chèn đẩy bởi quá trình tạo xương thẳng góc với trục lớn của xương tạo nên những hình gai hoặc hình cỏ cháy là biểu hiện của tổn thương ác tính, tiến triển nhanh, xâm lấn ra cả phần mềm. Triệu chứng này thấy rõ trên chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ.

3.3. Quá trình hỗn hợp

Cả 2 quá trình trên thường thấy ở một số bệnh trên lâm sàng như viêm, u xương.

Tính chất đơn độc hoặc nhiều ổ tổn thương là một yếu tố có giá trị cho chẩn đoán bệnh lý tại chỗ hay toàn thân.

3.4. Quá trình nhuyễn xương

Tích luỹ các thành phần dạng xương không vôi hoá, làm xương bị mềm đi, phối hợp giảm khoáng hoá các thành phần dạng xương. Thường gặp mắc phải do thiếu vitamin D, còn gọi là còi xương; bẩm sinh do khiếm khuyết các men chuyên hoá hoặc kháng vitamin D dẫn đến thiếu hụt. Trên hình ảnh ta có các xương chỉ có cấu trúc dạng xương, không được cốt hoá bình thường, hay gây ra biến dạng đầu xương hình mái chùa, kèn Trompette; biến dạng thân xương chữ O, chữ X hoặc cây gậy đánh bóng chày.

4. Bất thường về hình dáng

Ngoài những biến dạng thứ phát sau gãy  xương, một tổn thương của xương dài làm cho xương đó có thể phình to ra, teo nhỏ lại; hình xương biến đổi hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển của xương. Sự biến dạng như vậy kéo dài trong nhiều tháng, nhiều năm, cho ta hình ảnh đặc hiệu của tổn thương:

– Hình cây gỗ mục: viêm xương tủy xương.

– Hình bao kiếm: đặc toàn bộ xương chày trong giang mai xương.

– Hình gậy đánh Golf: bệnh xương hóa đá…

Có thể bạn quan tâm

    Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
    Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
    1448 bài viết