Một số chứng đau thần kinh khác

1. Đau ảo giác chi (Phantom lim pain).

– Là chứng đau có liên quan đến cắt bỏ một phầnhay toàn bộ chi thể, sau tai nạn cắt cụt, cắt bỏ tuyến vú, dạ dày, cơ quan sinh dục hoặc nhổ răng. Theo thống kê, sau cắt cụt có tới 60% đau ảo giác chi trong tháng đầu, 10% đau kéo dài, đau giảm dần theo thời gian.

– Đau có tính chất phiền muộn, bóp chặt, xé rách, thường xảy ra ở cắt cụt bàn tay, bàn chân.

2. Đau thần kinh sau zona (post herpetic neuralgia).

Là chứng đau hay gặp và là biến chứng đáng sợ nhất của bệnh Zona. Đau thường kéo dài sau khi tổn thương da lành, và có xu hướng giảm dần theo thời gian (25% còn đau kéo dài sau 1 tháng đến 1 năm).

– Đau trong giai đoạn cấp: trong thuỷ đậu ở trẻ em hoặc zona ở người lớn, đau do virus hoạt động âm ỉ trong hạch rễ lưng. Bản sao virus herpeszoster chuyển dịch theo thần kinh cảm giác ra ngoại vi do nhiễm khuẩn, ức chế miễn dịch, bệnh ác tính… Đau có thể xuất hiện trước hoặc tới khi xuất hiện các nốt phỏng ngoài da, đau thường có tính chất âm ỉ, có khi dữ dội, dị cảm hoặc tăng cảm kèm theo ban sẩn, mụn nước hay mụn mủ. Vị trí hay gặp ở một bên ngực (dọc thần kinh liên sườn), mắt, thần kinh V, có thể thấy tổn thương sừng trước gây liệt.

– Đau sau Zona: do sẹo Zona, biến đổi mô thần kinh (mất myelin và sợi trục, xơ sợi trong hạch rễ lưng). Tuổi càng cao càng dễ mắc bệnh zona, và tuổi càng cao thì càng hay bị đau sau zona. Bệnh nhân có cảm giác dị cảm như kiến bò, kim châm; có thể đau từng lúc, từng cơn như điện giật, dao đâm, hoặc liên tục, rát như bị bỏng. Nhiều bệnh nhân còn thấy đau xuất hiện mạnh khi quần áo đụng chạm nhẹ vào vùng da.

3. Đau sau đột quỵ trung ương (Cebtral poststroke pain).

– Là hội chứng đau bệnh thần kinh sau đột quỵ (bán cầu, đồi thị, hội chứng Wallenberg). Thường do tổn thương bó gai thị, đồi thị, chất trắng cảm giác dưới vỏ.

– Đau và rối loạn cảm giác trong phần thân thể bị tổn thương do mạch máu não (đau bỏng rát, đau nhức, đau như cắt, đau nặng nề, cảm giác ấm hay lạnh chi thể).

4. Hội chứng phức hợp đau theo vùng hỗn hợp (complex regional pain syndrome – CRPS).

– CPRS được phân thành hai loại:

+ CPRS týp I: phản xạ suy dinh dưỡng giao cảm, thường sau kích thích độc hại.

+ CPRS týp II: đau cháy bỏng, phát triển sua một tổn thương thần kinh (như dây hông to, dây giữa…).

– Biểu hiện lâm sàng:

+ Phổ biến ở chi trên, một bên và đầu ngoại vi, với tính chất đau đập nẩy, bỏng rát, nhức nhối, đau sâu ở ngọn chi, đau tăng khi chuyển động, nhiệt độ.

+ Rối loạn chức năng tự quản: thay đổi màu da, nóng lạnh chi, tăng tiết mồ hôi…

+ Rối loạn chức năng vận động: yếu, liệt, run, rối loạn trương lực, thường xảy ra muộn.

+ Các biến đổi phì đại: tóc móng, tăng sừng hóa, xơ hóa, loãng xương đầu xa, thường xảy ra muộn.

5. Viêm đa dây thần kinh do đái tháo đường.

– Là biến chứng của đái tháo đường do mất myelin, tổn thương sợi trục, tế bào Schwan.

– Gồm các thể:

+ Bệnh đa dây thần kinh đối xứng đầu xa: tăng cảm, dị cảm, mất cảm giác đầu xa, mất phản xạ gót, rối loạn cảm giác tư thế.

+ Bệnh đa rễ thần kinh: đau một hoặc nhiều rễ, yếu cơ.

+ Bệnh đơn dây thần kinh: tổn thương riêng rẽ các dây thần kinh sọ.

– Hậu quả cuối cùng: rối loạn cảm giác, rối loạn dinh dưỡng, hạ huyết áp tư thế, loét mục, yếu và teo cơ, giảm hoặc mất thị lực…

6. Đau sẹo (scar pain).

– Sau mổ, vết mổ đã liền sẹo nhưng đôi khi thấy đau ở sẹo. Thường gặp ở những sẹo mổ bụng dưới như mổ thoát vị bẹn, mổ đẻ, mổ phụ khoa, mổ ruột thừa… Bất cứ sẹo mổ hay vết thương nào cũng có thể gây đau kéo dài và đều được điều trị giống nhau. Đau sẹo có thể do sự chèn ép thần kinh, hoặc do dị vật kích thích tại chỗ; là kiểu đau thần kinh và là hậu quả của sự tổn thương thần kinh trong phẫu thuật.

– Đau khu trú quanh sẹo hoặc gần sẹo nhưng có khi lan rộng ra xa. Đau chói như dao đâm hoặc đau nhức và đau nặng lên mỗi khi cử động ho, hắt hơi hay gắng sức. Đau rất nhạy cảm với nhiệt độ là biểu hiện của rối loạn thần kinh thực vật. Khi khám thấy sẹo đã liền tốt nhưng có thể là sẹo lồi. ấn vào sẹo thấy đau, sờ có khi phát hiện một u thần kinh. Những vùng quanh sẹo có tăng hoặc giảm cảm giác, hoặc tăng cảm.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết