Các động tác hô hấp

Các động tác hô hấpHệ thống hô hấp có nhiêm vụ đưa không khí giàu oxy từ ngoài khí trời vào phế nang và đưa không khí từ phế nang có nhiều CO2 ra ngoài cơ thể. Như vậy, chức năng thông khí có vai trò làm cho không khí phế nang thường xuyên được đổi mới nhờ các động tác hô hấp.

Hệ thống hô hấp có nhiêm vụ đưa không khí giàu oxy từ ngoài khí trời vào phế nang và đưa không khí từ phế nang có nhiều CO2 ra ngoài cơ thể. Như vậy, chức năng thông khí có vai trò làm cho không khí phế nang thường xuyên được đổi mới nhờ các động tác hô hấp.

Để phân biệt với sự trao đổi khí ở màng hô hấp, quá trình thông khí ngoài của phổi còn được gọi là các hoạt động cơ học của hệ hô hấp.

Các động tác hô hấp

1. Động tác hít vào

a. Hít vào bình thường: được thực hiện do các cơ hít vào co lại, làm tăng kích thước của lồng ngực theo cả 3 chiều: chiều thẳng đứng, chiều trước sau và chiều ngang.

– Tăng chiều thẳng đứng:

+ Đáy lồng ngực là cơ hoành, bình thường cơ hoành lồi lên phía lồng ngực theo hai vòm. Khi cơ hoành co lại thì phẳng ra, hạ thấp xuống, do đó làm tăng chiều thẳng đứng của lồng ngực.

+ Cơ hoành cứ hạ thấp 1cm có thể làm tăng thể tích lồng ngực lên 250 mm3.

+ Khi hít vào bình thường cơ hoành hạ thấp xuống khoảng 1,5 cm, làm thể tích lồng ngực tăng lên khoảng 375 mm3.

+ Trong 1 chu kỳ hô hấp bình thường lồng ngực thay đổi thể tích khoảng 400- 500 mm3, chính vì vậy cơ hoành là cơ hô hấp quan trọng, nếu bị liệt sẽ làm rối loạn hô hấp nghiêm trọng.

– Tăng chiều trước sau và chiều ngang: ở cuối thì thở ra các xương sườn chếch ra trước và xuống dưới. Khi các cơ hít vào co lại, xương sườn quay quanh một trục đi qua hai điểm với đốt sống và chuyển tư thế chếch xuống sang tư thế nằm ngang, do đó làm tăng đường kính trước sau và ngang của lồng ngực.

Động tác hít vào là động tác tích cực nhờ năng lượng co cơ của cơ hoành và các cơ hít vào khác.

b. Hít vào tối đa

Nếu ta cố gắng hít vào hết sức thì có thêm một số cơ nữa cũng tham gia vào động tác đó như: cơ ức đòn chũm, cơ ngực và cơ chéo. Những cơ này bình thường tỳ vào bộ phận tương đối bất động là lồng ngực để làm cử động đầu và tay. Khi hít vào gắng sức đầu và tay trở thành tương đối bất động, các cơ này tỳ vào các cơ đó mà nâng xương sườn lên thêm nữa, do đó làm tăng đường kính của lồng ngực lên thêm nữa, nhờ áp suất âm mà phổi giãn ra nhiều hơn và khí vào phổi nhiều hơn.

Động tác hít vào tối đa là động tác chủ động.

2. Động tác thở ra

a. Thở ra bình thường: là động tác thụ động vì không đòi hỏi năng lượng co cơ. Trong động tác thở ra các cơ hít vào giãn ra làm các xương sườn hạ xuống, cơ hoành lồi lên, lồng ngực trở về vị trí cũ, làm thể tích lồng ngực giảm xuống, áp suất màng phổi bớt âm, nhờ tính đàn hồi của phổi mà phổi co lại dẫn đến thể tích phổi nhỏ lại, áp suất trong phế nang lớn hơn áp suất khí quyển, đẩy không khí từ phổi ra ngoài.

Động tác thở ra bình thường là động tác thụ động.

b. Thở ra tối đa: là động tác tích cực vì khi thở ra tối đa cần huy động thêm một số cơ nữa, chủ yếu là cơ thành bụng. Nhưng cơ này khi co lại kéo xương sườn hạ thấp xuống nữa, đồng thời ép vào các tạng ở bụng, đẩy cơ hoành lồi lên về phía lông ngực, làm thể tích lồng ngực giảm nhiều hơn nữa, thể tích phổi cũng giảm, áp suất phế nang tăng nhiều hơn nữa so với áp suất khí quyển, đẩy không khí ra ngoài nhiều hơn

Có thể bạn quan tâm

    Bài viết của: Điều Trị Đau Clinic
    Biên tập: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
    2864 bài viết