Loét do đè ép

4. Phòng ngừa:

4.1. Nguyên tắc dự phòng:

Nguyên tắc cơ bản là tạo cho máu dễ lưu thông.

– Thường xuyên thay đổi tư thế cho bệnh nhân, tối đa 2 giờ/1ần.

– Giữ gìn da khô, sạch, nhất là những vùng dễ bị loét.

– Thường xuyên xoa bóp những vùng dễ bị loét.

4.2. Phương pháp phòng ngừa

4.2.1. Giữ gìn da khô sạch, phát hiện vùng dễ bị loét:

– Hàng ngày phải quan sát vùng dễ bị loét, xác định các dấu hiệu báo trước một tổn thương loét như vùng đỏ da, mảng da phù nề.

– Lau rửa sạch những vùng ẩm ướt, bẩn, vùng mông của những người đại tiểu tiện không tự chủ bằng xà phòng và nước ấm. – Lau khô.

4.2.2. Thay đổi tư thế:

– Luôn thay đổi tư thế nằm 2 giờ/1lần làm cho bệnh nhân thoải mái. Trong trường hợp đặc biệt có thể thay đổi tư thế bệnh nhân nhiều lần trong ngày theo chỉ định của thầy thuốc.

– Nếu da chỗ xương cùng bị đỏ lên, phải để bệnh nhân nằm nghiêng hoặc nằm sấp nhưng cần chú ý khi để bệnh nhân nằm nghiêng không được để lâu quá hai giờ. Vì da vùng ụ lớn xương đùi dễ bị tổn thương đồng thời phải lót giữa hai đầu gối bằng một gối êm.

– Ðặt vòng bông ở những ụ xương nơi tiếp giáp với mặt giường (mắt cá, gót chân, bả vai)

– Ngoài ra, khi để nằm ngửa phải kê dưới lưng người bệnh một gối mềm và đặt vòng hơi cao su dưới mông. Khi cho bệnh nhân đi đại tiện phải lấy vải lót lên mép bô… kê cao bắp chân bằng gối mềm để giảm sức đè vào gót chân. Kéo phẳng đệm vải và vải trải giường, dùng khung chăn cũng góp phần vào việc đề phòng loét.

– Hiện nay người ta còn sử dụng đệm hơi (phao giường) bơm nước vào và đặt bệnh nhân liệt lên. Sức căng và sự di động của mặt nước trong đệm tạo thành áp lực thủy tĩnh tác động lên vùng da cơ thể bệnh nhân, có tác dụng như sóng mỗi khi có một lực tác động vào đệm.

4.2.3. Xoa bóp:

– Xoa bóp có tác dụng kích thích tuần hoàn có thể áp dụng ngay cả trường hợp trợt biểu bì hoặc có hoại thư.

– Trước hết + Rửa sạch tay

+ Rửa sạch vùng định xoa bóp bằng xà phòng sau đó xoa bóp với cồn và bột talc, xoa từ vùng có bắp cơ dày đến vùng dễ bị loét.

– Xoa khoảng 15 phút mỗi ngày 1-2 lần.

– Có thể kết hợp với tập cho bệnh nhân cử động để tránh tư thế xấu cho bệnh nhân về sau này.

5. Điều trị loét đè ép.

5.1. Chuẩn bị dụng cụ:

* Một khay dụng cụ băng bó loét đè ép:

– Các loại dung dịch sát khuẩn và thuốc theo chỉ định điều trị.

– Chậu nước ấm

– Xà phòng.

– Khăn bông to.

– Khăn nhỏ.

– Cồn 700, bột talc.

– Vòng hơi cao su.

– Vòng bông và khăn phủ.

– Ðệm hơi hay đệm bông.

– Vải trải giường.

5.2. Tiến hành:

– Rửa sạch loét đè ép như một vết thương, nếu loét đè ép có tổ chức hoại tử, cần cắt lọc hết phần hoại tử, sau đó có thể nhỏ vài giọt insulin lên bề mặt loét đè ép rồi đắp đường kính lên và thay đi khi đường tan.

– Ðắp thuốc theo chỉ định điều trị.

– Băng lại hoặc để thoáng tùy theo tình trạng loét đè ép.

Tùy trường hợp bác sĩ có thể cho:

+ Băng kín thấm hút.

+ Băng thoáng hơi.

+ Rọi bóng đèn, phơi nắng.

+ Chiếu tia cực tím, hồng ngoại, laser.

– Xoa bóp vùng xung quanh loét đè ép để kích thích tuần hoàn.

5.3. Những điểm cần lưu ý:

– Nên phòng loét đè ép hơn là trị loét đè ép.

– Những bệnh nhân dễ bị loét đè ép phải được nằm trên mặt phẳng êm và thay đổi tư thế, xoa bóp thường xuyên.

– Ðặc biệt theo dõi để phát hiện sớm các dấu hiệu loét đè ép.

– Giữ cho bệnh nhân được sạch sẽ và khô ráo ngay mỗi khi bẩn, ẩm ướt.

– Dinh dưỡng bệnh nhân: khẩu phần cần nhiều chất đạm và vitamin.

– Nên thay đổi vị trí các vòng, để lâu cũng gây loét đè ép.

(Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !
Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

Có thể bạn quan tâm