fbpx
Viện điện tử

Điều trị bệnh lý Viêm khớp cột sống thể trục: hiện tại và tương lai

Viêm cột sống dính khớp

Viêm khớp cột sống thể trục (axial spondyloarthritis, axSpA), trong đó có viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là bệnh lý viêm mạn tính với tổn thương chủ yếu và nổi bật ở các khớp trục, trong đó có cột sống và khớp cùng chậu; ngoài ra có thể có tổn thương khớp ngoại vi, bệnh lý bám tận, cũng như các biểu hiệu ngoài khớp.

Bệnh lý này thông thường dẫn đến dính, biến dạng khớp, cột sống, với nguy cơ tàn phế cao. Sự ra đời của những liệu pháp điều trị hiệu quả đối với VCSDK đã mang đến sự cải thiện triệu chứng và chức năng cho nhiều bệnh nhân và các nghiên cứu lâm sàng ngày càng chứng tỏ các liệu pháp điều trị hiệu quả có thể giúp ngăn chặn tổn thương cột sống và cấu trúc khác.

Việc ứng dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán/phân loại bệnh gần đây đối với VCSDK và các bệnh khớp cột sống nói chung (tiêu chuẩn ASAS) đã nhấn mạnh là có nhiều bệnh nhân với các đặc điểm của đau lưng kiểu viêm song chưa có những thay đổi trên X quang thường qui, nhưng lại có bệnh lý viêm hoạt động trên MRI (còn được gọi là viêm khớp cột sống không có dấu X quang). Những nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có viêm cột sống không có dấu X quang cũng đáp ứng với các liệu pháp điều trị như trong VCSDK.

Những điểm chính trong các khuyến cáo liên quan đến điều trị bệnh lý viêm khớp trục hiện nay bao gồm:

  • Điều trị bệnh nhân với VCSDK cần cá thể hóa. Cần xem xét dựa trên các yếu tố như mức độ hoạt động của bệnh, sự có mặt các yếu tố tiên lượng xấu hoặc có bệnh lý phối hợp, mức độ suy giảm chức năng, vấn đề dung nạp thuốc của bệnh nhân, kỳ vọng điều trị và các yếu tố tâm lý xã hội khác. Mức độ hoạt tính bệnh và mức độ cải thiện có thể được đánh giá dựa chỉ số BASDAI và hoặc ASDAS.
  • Khuyến cáo một chương trình tập luyện cho mọi bệnh nhân; điều trị vật lý trị liệu có thể cần thiết là hữu ích đối với một số bệnh nhân.
  • NSAID là liệu pháp điều trị đầu tiên được khuyến cáo; bất kỳ thuốc NSAID nào cũng có thể có hiệu quả. Để đánh giá hiệu quả tối đa của một NSAID cần sử dụng liên tục ít nhất 4 tuần. Không khuyến cáo sử dụng glucocorticoid (GC) đường toàn thân. Xem xét tiêm GC tại chỗ nếu có tổn thương khớp ngoại vi dai dẳng, viêm điểm bám tận (ngoại trừ gân Achilles) và viêm khớp cùng chậu.
  • Ở những bệnh nhân có bệnh lý nổi bật là viêm khớp ngoại vi, không đáp ứng đầy đủ với NSAIDs, khuyến cáo sử dụng sulfasalazine (trừ khi có chống chỉ định, chẳng hạn dị ứng), hoặc methotrxate.
  • Với bệnh nhân có bệnh lý thể trục không đáp ứng với NSAIDs, khuyến cáo chỉ định một thuốc sinh học, thông thường theo các khuyến cáo là bắt đầu với thuốc kháng TNF-a, tuy nhiên các bằng chứng cho thấy nhóm thuốc ức chế IL-17A cũng có thể là lựa chọn sinh học đầu tiên.
  • Các thuốc ức chế IL-17A, trong đó có Secukinumab, là nhóm thuốc sinh học mới có thể có thể được sử dụng cho bệnh nhân có VCSDK hoạt động thay thế nhóm kháng TNF-a hoặc khi bệnh nhân không đáp ứng hoặc không dùng nạp với nhóm thuốc này. Những chứng cứ gần đây cho thấy Secukinumab cũng có hiệu quả trong viêm khớp cột sống trục không tổn thương X quang. Hơn nữa, các bằng chứng cũng cho thấy Secukinumab có thể giúp ngăn ngừa tổn thương cấu trúc trên X quang ở ít nhất 80% bệnh nhân sau 2-4 năm điều trị.

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị, một tỷ lệ bệnh nhân vẫn không đáp ứng với những liệu pháp điều trị hiện tại cả về lâm sàng cũng như tiến triển tổn thương cấu trúc. Điều này đặt ra những yêu cầu chưa được giải đáp về những liệu pháp điều trị hiệu quả khác.

Một số chế phẩm nhằm đích mới, trong đó có thuốc kháng IL12/23 (Ustekinumab), các thuốc phân tử nhỏ ức chế Janus Kinase (JAK) và cả những thuốc sinh học nhằm đích mới khác, cũng đã đang được thử nghiệm trong điều trị VCSDK và bệnh lý viêm khớp cột sống thể trục.

Ở lĩnh vực nghiên cứu cũng đang có nhiều nỗ lực nhằm tìm ra những đích mới trong điều trị bệnh lý viêm khớp cột sống trục. Các liệu pháp hướng tới môi trường khuẩn lạc ở ruột và phục hồi sự dung nạp miễn dịch (chẳng hạn với IL-2 và tế bào gốc trung mô), cũng như việc loại bỏ có chọn lọc các dòng tế bào T liên quan đến bệnh là một số ví dụ về việc phát triển các liệu pháp điều trị tiềm năng trong tương lai.

Hy vọng chúng ta sẽ có thêm những lựa chọn điều trị mới hơn, đa dạng hơn và hiệu quả hơn cho bệnh nhân có bệnh lý viêm khớp cột sống.

PGS.TS. Nguyễn Đình Khoa- Bệnh viện Chợ Rẫy

-5%
10.990.000
Mua
-9%
Bán chạy

Máy vật lý trị liệu Bộ Quốc phòng

[Wonder MF508N] Máy vật lý trị liệu Wonder MF5-08N (New)

3.290.000
-6%

Hỗ trợ cơ xương khớp chi dưới

[MPT8-12] Máy vật lý trị liệu đa năng MPT8-12

3.490.000
Mua
BH 20 năm
Mua

(Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !
Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

-5%
10.990.000
Mua
-9%
Bán chạy

Máy vật lý trị liệu Bộ Quốc phòng

[Wonder MF508N] Máy vật lý trị liệu Wonder MF5-08N (New)

3.290.000
-6%

Hỗ trợ cơ xương khớp chi dưới

[MPT8-12] Máy vật lý trị liệu đa năng MPT8-12

3.490.000
Mua
BH 20 năm
Mua
DMCA.com Protection Status