Đại sài hồ thang

(Phụ: Thanh tuỵ thang)

“Thương hàn luận”

– Tổ thành:

Sài hồ

2-4 đc

Chỉ thực

2-3 đc

Hoàng cầm

1,5-3 đc

Đại hoàng

1,5-3 đc

Bán hạ

2-3 đc

Sinh khương

3-5 lát

Thược dược

2-3 đc

Đại táo

4-6 quả

– Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, chia 2 lần uống.

– Công dụng: Hòa giải thiếu dương, tả hạ kết nhiệt.

– Chủ trị: Thiếu dương chưa giải lý nhiệt đã thịnh, chứng thấy nóng rét qua lại, ngực buồn bằn nôn ác, u uất hơi phiền, ngực bụng chướng tức không thư, đại tiện không giải, hoặc ỉa ra dễ mà không thấy thoải mái, miệng đắng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền có lực.

– Giải nghĩa của phương: Phương này là Tiểu sài hồ thang có bỏ Nhân sâm, Cam thảo, gia Đại hoàng, Chỉ thực, Thược dược ở tổ thành, cùng kết hợp hòa giải và hoãn hạ, có tác dụng sơ can hòa lý, tiết nhiệt, tiêu đạo. Sài hồ, Hoàng cầm trị hàn nhiệt vãng lai, ngực sườn đau tức của chứng thiếu dương. Đại hoàng, Chỉ thực trị lý nhiệt uất kết, ngực bụng chướng đầy, đại tiện không thông (hoặc ỉa dễ), là chứng dương minh. Thược dược hòa lý hay chữa đau bụng, phối hợp với Hoàng cầm có thể trị ỉa dễ nhiệt tính. Ngoài ra, một vị gừng sống phối hợp với Bán hạ có công năng cầm nôn, phối hợp với Đại táo có thể làm hòa doanh vệ. Nói chung, lại là phương này trị thái dương, dương minh cùng có bệnh, là phương tễ hòa giải và công hạ gộp lại dùng.

– Cách gia giảm thường dùng: Mấy năm gần đây thường dùng phương này chữa viêm túi mật, sỏi mật, khi ứng dụng có thể tuỳ chứng gia giảm, như ngực buồn bằn, khí cơ không lợi gia Uất kim, Thanh bì, Mộc hương; Xuất hiện hoàng đản gia Nhân trần, Sơn chi; Ngực sườn đau gia Xuyên luyện tử, Toàn phúc hoa; Nếu có sỏi gia Xa tiền thảo, Hải kim sa, Kê nội kim.

– Phụ phương: Thanh tuỵ thang

(Phương kinh nghiệm của Thiên tân Nam khai y viện).

Sài hồ

5 đc

Mộc hương

3 đc

Hoàng cầm

3 đc

Diên hồ sách

3 đc

Hồ hoàng liên

3 đc

Sinh đại hoàng

5 đc (hậu hạ)

Bạch thược

5 đc

Mang tiêu

2 đc (cho vào lúc uống)

Tổ thành thuộc về biến hóa gia giảm của Đại sài hồ thang, có tác dụng sơ can, lý khí, thanh nhiệt, tả hỏa, thông tiện, có thể chữa can uất khí trệ (bụng đau từng cơn, hoặc đau suốt, có chứng trạng thiếu dương, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc hơi vàng, mạch tế nhược hoặc tụ), tỳ vị thực nhiệt (bụng tức đau không cho sờ nắn, miệng khát, bí ỉa, đái ngắn đỏ, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng dày trơn hoặc táo, mạch hồng sác), thấy chứng của cấp tính viêm tuyến tụy.

Người bệnh chứng nhẹ ngày uống 1 tễ, sắc lấy 300ml, chia làm 2 lần uống, người bệnh mức vừa và nặng ngày uống 2 tễ chia làm 4 lần uống. Sau khi chứng trạng cấp tính đã hoãn giải, hoặc khi ỉa chảy mỗi nagỳ 2-3 lần lại giảm bớt dược vật và số nặng của tễ. Sau khi uống thuốc đường ruột thông thư và không có quan hệ nhất định tới kết quả chữa. Nhất loạt mỗi ngày phải giữ được đại tiện 2-3 lần là vừa, quá nhiều thì thương chính khí. Sau khi đau cấp tính đã giảm nhẹ, đường ruột đã thông dễ phải giảm bỏ Đại hoàng, Mang tiêu, thêm vào thuốc tỉnh tỳ hòa vị như Trần bì, Khấu nhân, Tiêu lục khúc, Tiêu mạch nha, Tiêu sơn tra. Người bệnh có chửa, thuốc công hạ lượng dùng phải giảm bớt.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết