Phòng phong

Tiếng Trung: 房 風

Xuất xứ : Thần Nông Bản Thảo.

Tên khác :  Bỉnh phong, Hồi thảo, Lan căn (Biệt Lục), Đồng vân (Bản Kinh), Bắc phòng phong, Hồi vân, Bạch phi (Ngô Phổ Bản Thảo), Thanh phòng phong, Hoàng phòng phong, Bách chi, Hồi tàn, Hồi thảo, Sơn hoa trà, Tục huyền (Hòa Hán Dược Khảo).

Tên khoa học : Ledebouriella seseloides Wolff.

Họ khoa học : Hoa Tán ( Apiaceae)

Mô Tả :

Phòng phong

Xuyên phòng phong (Ligusticum brachylobum Franch.) là cây sống lâu năm, cao tới 1m. Lá có cuống dài, phía dưới cuống lá phát triển thành bẹ ôm lấy thân cây, lá kép 2-3 lần xẻ lông chim. Hoa tự hình tán kép 25-30 tán nhỏ, dài ngắn không đều (khoảng 5-8cm), mỗi tán nhỏ mang 25-30 hoa màu trắng. Quả kép gồm 2 phân quả, hình trứng dẹt, không có lông, trên lưng có sống chạy dọc giữa sống có 3 ống tinh dầu, mặt tiếp xúc có 5-6 ống tinh dầu, hai bên mép phát triển thành cánh.

Phòng phong hay Thiên phòng phong (Ledebouriella seseloides Wolff.) là cây sống lâu năm, cao khoảng 0,3-0,8m, lá mọc cách, cuống lá dài, phía dưới cuống phát triển thành bẹ ôm vào thân, lá kép 2-3 lần xẻ lông chim, trông giống lá Ngải cứu. Hoa tự hình tán kép, mỗi tán kép có 5-7 tán nhỏ, cuống tán nhỏ không đều nhau. Mỗi tán nhỏ có 4-9 hoa nhỏ, màu trắng. Quả kép gồm 2 phân quả, hai quả dính nhau như hình chuông. Trên lưng quả có sống chạy dọc, giữa sống có 1 ống tinh dầu, mặt tiếp xúc giữa 2 phân quả có 1 ống tinh dầu.

Vân phòng phong hay Trúc diệp phòng phong (Seseli delavayi Franch.) là cây sống lâu năm, cao khoảng 0,3-0,5m. Lá kép 2-3 lần xẻ lông chim, cuống lá dài, phiến lá chét giống lá tre, dài 7-10cm, rộng 2-4cm, mép nguyên. Hoa tự hình tán kép gồm 5-8 tán nhỏ, mỗi tán nhỏ gồm 10-20 hoa nhỏ có cuống dài ngắn không đều. Hoa màu trắng. Quả hình trứng dài, màu tái nâu, trên lưng phân quả có sống, chạy dọc giữa sống quả có 3 ống tinh dầu, mặt tiếp xúc giữa 2 phân quả có 5 ống tinh dầu.

Địa lý : Phòng phong mọc ở Trung Quốc, chưa thấy mọc ở Việt Nam.

Bộ phận dùng : Rễ (Radix Sileris). Thứ rễ to, khỏe, da mỏng, mịn, đầu rễ không có lông, mặt cắt ngang có vòng mầu nâu, ở giữa tâm mầu vàng nhạt là loại tốt. Vỏ ngoài sù sì, đầu có lông kèm chồi cứng là loại kém.

Mô tả dược liệu: Loại Phòng phong của Trung Quốc thường dùng có hình dùi tròn goặc hình trụ tròn, hơi cong. Mặt ngoài mầu vàng tro hoặc nâu tro. Đầu rễ có nhiều đốt vòng sát nhau, trên đốt có lông thô mầu nâu, đỉnh chót có vết thân còn sót, vỏ ngoài phần thân của rễ sù sì, có đường vân nhỏ và có vết rễ bên. Chất xốp, dễ bẻ gẫy, mặt bẻ không phẳng, giữ có tâm tròn mầu vàng, bên ngoài có từng vòng mầu nâu, lớp ngoài cũng mầu trắng vàng nhạt, có kẽ hổng. Hơi có mùi, vị nhạt (Dược Tài Học).

Bào chế :

+ Chọn củ nào chắc mà lại nhuận là tốt. Cắt bỏ đầu đuôi đi, thái nhỏ, để dành dùng dần (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Bỏ sạch lông bờm trên đầu cuống, phun nước  cho mềm, thái phiến, phơi khô, dùng sống hoặc  sao lên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Rửa sạch, để ráo, thái mỏng, phơi khô (Dược Liệu Việt Nam).

Thành phần hóa học :

+ Tinh dầu, Manit, chất có Phenola Glucosid đắng, đường, acid hữu cơ (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).

+ Manitol, Phenol (Trung Dược Học).

+ Xanthotoxin (Sinh Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1989, 43 (3) : 216).

+ Anomalin, Scopolatin (Tiểu Lâm Hoằng Mỹ , Sinh Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1983, 37 (3) : 276).

+ Marmesin  (Guo Dean và cộng sự, C A 1993, 118 : 240548h).

Panaxynol Falcarinol, Falcarindiol, 8E-Heptadeca-1, 8-Dien-4, 6-Diyn-3, 10-diol (Baka K và cộng sự, Sinh Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1987, 37 (3) : 276).

+ Saposhnikovan  (Shimizu N và cộng sự, Chem Pharm Bull 1989 37 (5) : 1329).

Tác dụng dược lý :

+ Tác dụng điều hòa nhiệt độ: nước sắc Phong phong cho uống thấy có tác dụng thoái nhiệt (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Phòng phong có tác dụng ức chế  1 số virus cúm. Nước sắc tươi Phòng phong in vitro có tác dụng đối với 1 số khuẩn như Shigella spp, Pseudomomas aeruginosa, Staphylococus aureus (Trung Dược Học).

+ Tác dụng giảm đau: Nước sắc Phòng phong uống hoạc chích dưới da đều có tác dụng nâng cao ngưỡng chịu đau của chuột (Trung Dược Học).

+ Dùng chất chiết từ Phòng phong cho thỏ đã được gây sốt uống thì thấy thuốc có tác dụng hạ nhiệt (Trung Xuyên Công Hải, trong ‘Trung Hoa Dân Quốc Y Học Hội’ Năm 1942).

+ Dùng vacxin thương hàn tiêm tĩnh mạch thỏ để gây sốt rồi so sánh tác dụng giảm sốt của 1 số vị thuốc Đông y, thấy Phòng phong (Silver divaricata Schischk.) chế thành thuốc sắc 20% và thuốc ngâm với liều 10mg/kg đổ vào dạ dầy, thì sau nửa giờ sau khi cho thuốc, tác dụng giảm sốt xuất hiện rõ. Đối với thuốc sắc, tác dụng này duy trì trên 2 giờ rưỡi, nhưng đối với thuốc ngâm thì sau 2 giờ, nhiệt độ lai tăng lên cao so với lô đối chứng. Tác giả cho rằng tác dụng giảm sốt của Phòng phong không cao (Tôn Thế Tích, Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1956, 10 : 964).

Tính vị :

+ Vị ngọt, tính ấm (Bản Kinh).

+ Vị cay, không độc (Biệt Lục).

+ Vị ngọt, cay, tính ôn, tán (Phẩm Hối Tinh Yếu).

+ Vị ngọt, cay, tính ôn, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Vị cay, ngọt tính ấm (Trung Dược Học).

+ Vị cay, ngọt, tính hơi ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Quy kinh :

+ Vào kinh túc Dương minh Vị, túc Thái âm Tỳ (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Vào kinh Phế (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

+ Vào kinh Can, Đại trường, Tam tiêu ((Yếu Dược Phân Tễ).

+ Vào kinh bàng quang, can và tỳ (Trung Dược Học).

+ Vào kinh can, đại trường, tam tiêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết